Rủi ro vây bủa người loãng xương

Hậu quả là dù không té hay chỉ trợt té nhẹ, đập mông xuống đất cũng làm gãy xương sống. Một số trường hợp khác trợt té chống tay nhẹ xuống đất bị gãy đầu dưới xương quay. Cũng có những trường hợp té nhẹ hay xoạc chân xoay ngoài cẳng bàn chân nhưng bị gãy cổ xương đùi…

Có thể chết vì biến chứng

Đối với xương sống, nhiều khi các đốt sống gãy lún một cách âm thầm do thao tác hàng ngày khom cúi, khiêng xách (dù vật nhẹ) cho tới khi thấy đau lưng hay thắt lưng. Cần lưu ý khi xương bị loãng, rủi ro gãy xương tăng gấp sáu bảy lần so với người bình thường không bị loãng xương. Vì thế nói đến loãng xương phải nghĩ ngay đến biến chứng gãy xương, na ná như nói đến huyết áp cao thì nhắc biến chứng tai biến mạch máu não, liệt bán thân... Một chấn thương dù rất nhẹ với người trẻ cũng là nguyên nhân gãy xương nặng khi bị loãng xương. Gãy xương sống sau trợt té nhẹ ở tuổi già cũng là chuyện thường thấy.

Gãy xương do loãng xương gây ra nhiều tổn thất cho sức khoẻ cá nhân cũng như xã hội. Loãng xương thường gây triệu chứng đau mạn tính, nhất là ảnh hưởng cột sống. Biến chứng gãy xương sống hay cổ xương đùi đều có thể đưa đến tử vong nếu không được điều trị đúng mức. Khoảng 50% lão bà và 20% lão ông sau 65 tuổi bị biến chứng gãy xương do loãng xương.

Đàn ông cũng phải cảnh giác

Phụ nữ sau tuổi mãn kinh (tuổi trung bình sau 47 tuổi) dễ bị loãng xương. Do đó tới độ tuổi này cần theo dõi dấu hiệu loãng xương và phòng ngừa trước. Cùng một độ tuổi, nam giới ít bị loãng hơn cho tới tuổi sau sáu mươi, bảy mươi. Ở độ tuổi sau bảy mươi, quý lão ông đuổi theo quý lão bà về việc... loãng xương. Loãng xương ở nam giới thường bị bỏ sót chẩn đoán, không nhận ra, không ai nghiên cứu hay báo cáo đầy đủ dù các rủi ro bị loãng xương không khác nữ giới nhiều. Hầu như các yếu tố rủi ro xảy ra ở nữ giới đều có thể xảy ra ở nam giới.

Những yếu tố rủi ro dễ bị loãng xương thường thấy: là phụ nữ; người có thể tạng mảnh mai, lùn; xương khớp nhỏ nhắn, mong manh...; người càng già càng dễ có rủi ro loãng xương; người hút thuốc lá; do yếu tố di truyền (gia đình đã bị loãng xương hay dễ gãy xương); sau mãn kinh phụ nữ dễ bị rối loạn thăng bằng kích thích tố, khiến khối lượng xương nhanh suy giảm; bặt kinh sớm; chán ăn hay quá háu ăn, ăn nhiều chất đạm khi có tuổi; khẩu phần ăn thiếu canxi; buộc phải uống một số loại thuốc có tác dụng gây loãng xương (methotrexate, corticosteroides,...); thiếu kích thích tố sinh dục nam testoterone; nghiện rượu; bệnh huyết cầu hình liềm hay bệnh lupus đỏ...

Triệu chứng báo hiệu loãng xương

Cần lưu ý đến loãng xương khi thấy các triệu chứng: nghi gãy lún xương sống do loãng xương dù không chấn thương (khi thấy lùn dần và đo thấy hụt chiều cao hơn trước); đau lưng hay thắt lưng hoặc hai bên xương sườn dai dẳng, mạn tính hay đau xương tay chân mơ hồ không rõ nguyên nhân; đi đứng lom khom, không thể đứng thẳng; xương sống mất dần đường cong sinh lý, dẫn đến biến dạng cột sống (còng thắt lưng, vẹo cột sống lưng hay thắt lưng); gãy xương sống hay xương dài tái đi tái lại; gãy xương sống hay đầu xa xương quay, gãy cổ xương cánh tay dù bị chấn thương nhẹ; có nhiều vấn đề nội khoa xảy ra cho bệnh nhân như viêm khớp dạng thấp, bệnh lupus đỏ, sử dụng nhiều thuốc hạt dưa (corticosteroides) để trị bệnh hay lạm dụng, tiền căn bị cắt toàn bộ tử cung, cắt buồng trứng do u xơ, do ung thư tử cung hay cổ tử cung...

Việc chẩn đoán loãng xương thường sẽ dựa vào: tiền căn gãy xương dù chấn thương nhẹ, thân nhân hay gia đình dễ bị gãy xương hay đã bị loãng xương; thăm khám bệnh nhân để phát hiện những triệu chứng và yếu tố rủi ro; X-quang thường quy để chẩn đoán gãy xương và phát hiện các triệu chứng loãng xương; đo tỷ trọng xương bằng các máy đo phù hợp; đo các chất phát hiện loãng xương trong máu, nước tiểu... Khi đo tỷ trọng xương phải chú ý kỹ thuật và máy đo, máy đo thường dùng hiện nay là máy hấp thu X-quang năng lượng kép (DXA), hay định lượng theo X-quang cắt lớp điện toán định lượng (QCT).

Ai nên đo tỷ trọng xương?

Đo tỷ trọng xương nên áp dụng cho những ai đã bị gãy xương dù chấn thương nhẹ, phụ nữ sau mãn kinh với những yếu tố rủi ro đã nêu, tất cả phụ nữ trên 65 tuổi, ngay cả nam giới trên 50 tuổi nếu có kèm yếu tố rủi ro. Ngoài ra, việc đo tỷ trọng xương còn dành cho những ai có bệnh lý phải dùng thuốc corticosteroides lâu dài, các loại thuốc gây loãng xương như methotrexate; những phụ nữ bị cắt tử cung và hai buồng trứng với những dấu hiệu đau xương mơ hồ hay có kèm các yếu tố rủi ro...

Bệnh nhân nên giúp thầy thuốc chẩn đoán bệnh dễ dàng hơn với sự khai tiền căn cá nhân, gia đình và bệnh sử đầy đủ, mang các toa thuốc cũ đã dùng đến, viết sẵn những thắc mắc để hiểu cặn kẽ thêm bệnh loãng xương, thảo luận với bác sĩ để rõ hơn việc điều trị và phòng ngừa...

PGS.TS.BS Võ Văn Thành

Những ngộ nhận thường gặp

Người trẻ tuổi không việc gì phải lo quá sớm chuyện loãng xương?

Nếu từ lúc trẻ được ăn uống đầy đủ, tập thể dục, thể thao hàng ngày… thì khối lượng xương gia tăng dần và đạt ngưỡng cao nhất lúc 30 tuổi. Sau tuổi này, khối lượng xương mất dần theo thời gian, đặc biệt nơi phụ nữ sau mãn kinh. Với khối lượng xương dự trữ lớn, cơ thể vẫn còn khoẻ mạnh, đủ chống biến chứng gãy xương.

Ngược lại, nếu thiếu tập luyện, ăn uống thiếu thốn, suy dinh dưỡng từ nhỏ, không dùng đủ chất canxi… thì khối lượng dự trữ canxi thấp, dễ đưa đến loãng xương khi lớn tuổi. Tuổi nào cũng có thể bị loãng xương nếu mắc các bệnh lý hay dùng thuốc ảnh hưởng đến bộ xương gây thiếu hay loãng xương.

Tuổi đã già, thôi không phải lo loãng xương nữa?

Thái độ ngược lại này cũng sai vì nếu có quan tâm đầy đủ đến xương thì mới có thể ngăn chặn sự mất khối lượng xương và phòng ngừa gãy xương thêm. Chất lượng cuộc sống tốt hơn khi biết phòng trị gãy xương do loãng xương.

Loãng xương không phải bệnh lý đáng quan tâm?

Đây là một ngộ nhận khá phổ biến do thiếu hiểu biết, dẫn đến nhiều trường hợp khi bị biến chứng gãy xương thì đã muộn.

Theo SGTT

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm