Nguyễn Tri Phương: Quan văn lừng lẫy trận mạc
Xuất thân là quan văn, tuy nhiên Nguyễn Tri Phương lại nổi danh là tướng quân lập vô vàn chiến công cho triều Nguyễn.

Kỷ niệm 140 năm ngày danh tướng Nguyễn Tri Phương (1800-1873), ngày 28-9, lần đầu tiên các sử gia TP Đà Nẵng và Huế ngồi lại với nhau tại hội thảo khoa học về vai trò của ông trên mặt trận Đà Nẵng trong kháng chiến chống liên quân Pháp - Tây Ban Nha (1858-1860). Hội thảo làm rõ hơn tài thao lược của vị tướng lừng danh buổi đầu đánh Pháp này.

Dũng mãnh và lắm mưu chước

Theo các nhà nghiên cứu, nói về công trạng của danh tướng Nguyễn Tri Phương phải kể đến việc ông thống lĩnh quân dân trong buổi đầu đánh liên quân Pháp - Tây Ban Nha tại Đà Nẵng.

Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử TP Đà Nẵng kiêm Trưởng ban Tổ chức Thành ủy Bùi Văn Tiếng nhận định: “Nguyễn Tri Phương có một cuộc đời xông pha trận mạc trải dài khắp đất nước, từ chỉ huy chiến đấu bảo vệ Sài Gòn (năm 1860-1861) và cuối cùng là chỉ huy chiến đấu tử thủ thành Hà Nội năm 1873. Nhưng có lẽ cuộc kháng chiến chống liên quân Pháp - Tây Ban Nha (năm 1858-1860) trên mặt trận Đà Nẵng mới thực sự làm cho tên tuổi của ông lưu danh thiên cổ, mới thực sự khẳng định tài năng và nghệ thuật quân sự của ông”.

Tranh vẽ lính Pháp đánh thành Hà Nội và tướng Nguyễn Tri Phương tử thủ. Ảnh tư liệu.

Theo các sử gia, ngày 1-9-1858, tàu chiến liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng vào Đà Nẵng mở đầu cho công cuộc xâm lược nước ta. Sau hai ngày giặc lần lượt chiếm đồn Nại Hiên Đông và An Hải (quận Sơn Trà ngày nay), quân triều đình nhà Nguyễn chạy tan tác, rút lui. Vận mệnh đất nước lâm nguy, vua Tự Đức đã chọn quan văn Nguyễn Tri Phương chứ không phải ai khác cầm quân ra trận. Vua trao cho ông toàn quyền quyết định trên chiến trường. Bởi trước đó chính cái tên Nguyễn Tri Phương cũng là do vua Tự Đức đặt cho ông (tướng Nguyễn Tri Phương tên thật là Nguyễn Văn Chương). Cái tên Nguyễn Tri Phương này bắt nguồn từ câu “Dõng thả tri phương”, nghĩa là dũng mãnh mà lắm mưu chước.

Về chiến công đẩy lui liên quân Pháp - Tây Ban Nha, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử TP Đà Nẵng kiêm Trưởng ban Tổ chức Thành ủy Bùi Văn Tiếng ví von: “Nhờ được các vua thời Nguyễn cho “luân chuyển cán bộ để đào tạo” mà Nguyễn Tri Phương có điều kiện thâm nhập thực tế chiến trường Đà Nẵng từ trước chiến tranh. Do vậy, so với các tư lệnh mặt trận tiền nhiệm, ông có cái nhìn toàn cục hơn. Vì thế vào tháng 10-1858 khi phòng tuyến Điện Hải, An Hải bị vỡ, quân ta tan tác nhưng ông đã nhanh chóng thiết lập lực lượng, cho xây dựng phòng tuyến Liên Trì, lấy phòng thủ để tiến công. Nhờ tài thao lược, ông cùng quân dân Đà Nẵng đã đánh bại quân đội viễn chinh Pháp ra khỏi Đà Nẵng vào ngày 23-3-1860”.

“Gương đức hạnh khó tìm ở Á châu”

Cụ Nguyễn Tri Việt (hậu duệ đời thứ năm của danh tướng Nguyễn Tri Phương) cho biết cả đời cụ Nguyễn Tri Phương đã toàn tâm toàn ý dốc sức phụng sự tổ quốc. “Ông đã cùng em ruột và con của mình tham chiến ở trận đầu đánh Pháp tại Đà Nẵng cho tới lúc hy sinh tại thành Hà Nội. Em chết bên anh, con chết dưới chân cha. Rồi đến lượt mình, cụ đã nằm xuống trên chiến trường khi mái đầu đã bạc phơ hơn 73 tuổi” - ông Việt bồi hồi kể.

Theo ông Việt, dù danh vọng, quyền bính đến tột đỉnh nhưng với Nguyễn Tri Phương chỉ một lòng tận tụy với nước với dân nên cuộc sống vật chất nghèo nàn. Gia tài trước sau vỏn vẹn một mái nhà tranh. Nhân cách của ông không chỉ được người dân khâm phục mà ngay cả người Pháp cũng phải cúi đầu. Paulin Vial - một sử gia người Pháp viết: “Vị quan già ấy (ý nói Nguyễn Tri Phương) tất cả đều cung kính, ông phụng sự nước Nam với ý định không làm giàu bằng sự bóc lột cướp giật tài sản của dân chúng. Ấy là một gương đức hạnh vô biên khó tìm thấy ở Á châu…” - ông Việt nhắc lại.

Người dám làm dám chịu

Tại hội thảo, các sử gia thẳng thắn cho rằng Nguyễn Tri Phương là một trong ít các vị tướng dám làm dám chịu trách nhiệm về mình. Vì người ta vẫn thường thấy sự nhu nhược, xu nịnh của một quan văn. Bản thân ông lại xuất thân từ quan văn.

Để khẳng định điều này, các sử gia Đà Nẵng, Huế chỉ rõ: “Trong trận Liên Trì, quân ta chịu không ít thiệt hại, 62 người chết, 105 người bị thương, 97 nhà dân bị đốt. Nguyễn Tri Phương dâng sớ xin nhận tội. Vua đồng ý giáng chức nhưng không triệu ông về triều mà cho ông ở lại lập công chuộc tội”.

LÊ PHI