Nhạc sĩ, giáo sư Ca Lê Thuần qua đời
(PLO)-10 giờ sáng nay (20-1), PGS. Nhạc sĩ Ca Lê Thuần đã qua đời tại Bệnh viện Thống Nhất (TP.HCM) sau thời gian dài đột quỵ.

Người nhà nhạc sĩ Ca Lê Thuần cho biết, vợ ông NSƯT Mỹ An cũng đang bệnh chữa trị tại bệnh viện Hoàn Mỹ nên hiện tại chưa biết thông tin ông mất. Con gái duy nhất của nhạc sĩ hiện ở Bỉ và dự kiến ngày mai mới về nước.

Hiện tại Hội Âm nhạc TPHCM cùng Liên hiệp Các Hội Văn học nghệ thuật TP.HCM đang phối hợp cùng gia đình để lo tang lễ cho nhạc sĩ. Dự kiến lễ tang của nhạc sĩ Ca Lê Thuần sẽ diễn ra tại Nhà tang lễ TP.HCM.

Trước đó vào giữa tháng 11-2016 nhạc sĩ Ca Lê Thuần đã phải nhập viện vì đột quỵ và được điều trị tại khoa cán bộ cao cấp của bệnh viện Thống Nhất.

GS nhạc sĩ Ca lê Thuần đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác khí nhạc với tác phẩm Người giữ cồn

GS nhạc sĩ Ca lê Thuần đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác khí nhạc với tác phẩm "Người giữ cồn". Ảnh NLĐO.

Nhạc sĩ, giáo sư Ca Lê Thuần là con trai của giáo sư Ca Văn Thỉnh và là anh trai của nhà thơ Lê Anh Xuân và NSƯT, đạo diễn Ca Lê Hồng.

Nhạc sĩ Ca Lê Thuần, nguyên Tổng Thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa IV (1989 -1995). Nguyên đại biểu Quốc hội khóa 7, khóa 8 và khóa 9, nguyên Phó Trưởng Ban Văn hóa - Văn nghệ Trung ương, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin TP.HCM, nguyên Giám đốc Nhạc viện TP.HCM, nguyên Tổng Thư ký Hội Âm nhạc TP.HCM. Hiện nay là Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật TP.HCM. Được Nhà nước phong hàm Phó Giáo sư năm 1984.

Nhạc sĩ Ca Lê Thuần đã được giải thưởng: Giải B của Hội Văn nghệ Giải phóng (1976), Giải A của Vụ Âm nhạc và Múa (1980), Giải Nhì của Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1998), Huy chương Vàng, Bạc trong Liên hoan Kịch múa Việt Nam lần thứ nhất (2001).

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia "Ca Lê Thuần (sinh năm 1938 - mất ngày 20/1/2017) là nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc, nhà sư phạm người Việt Nam. 

Ca Lê Thuần sinh ra trong một gia đình trí thức, bố mẹ đều là nhà giáo, anh chị em hầu hết hoạt động văn hóa-nghệ thuật. Ngay từ nhỏ, Ca Lê Thuần thấm nhuần những âm điệu hò, dân ca trữ tình, điều đó ảnh hưởng đến ngôn ngữ âm nhạc của ông sau này. 

Năm 16 tuổi, Ca Lê Thuần là diễn viên văn công. Năm 1954, ông theo đơn vị tập kết ra Bắc. Năm 1957, ông theo học sáng tác tại Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội). Năm 1959, ông học sáng tác và lý luận âm nhạc tại Nhạc viện Odessa (Liên Xô cũ). Trở về nước năm 1964, Ca Lê Thuần làm công tác giảng dạy sáng tác và lý luận tại Trường Âm nhạc Việt Nam, góp phần xây dựng các chương trình, giáo trình các mô kiến thức âm nhạc cơ bản và chính quy, đồng thời tiếp tục sáng tác, nổi bật là 12 bản prélude dành cho piano dựa trên cảm hứng nảy sinh từ những câu thơ, khai thác những âm hưởng trong âm nhạc dân gian Việt Nam, đặc biệt là chất dân ca Nam Bộ.

Năm 1972, Ca Lê Thuần trở lại Nhạc viện Odessa học tiếp, hoàn thành một só tác phẩm khí nhạc. Sau ngày thống nhất đất nước, ông trở về miền Nam công tác tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ năm 1987 đến năm 1997, ông là đại biểu Quốc hội, là phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội. Năm 1989, ông nhận chức giám đốc Sở Văn hóa-Thông tin Thành phồ Hồ Chí Minh.

Năm 1997, Ca Lê Thuần là giám đốc Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi nghỉ hưu.

Từ năm 2001, ông là tổng thư ký Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh. Trong những năm đó, Ca Lê Thuần vẫn tiếp tục sáng nhiều ca khúc và hợp xướng

  • Các tác phẩm cho dàn nhạc giao hưởng, trong đó là:
  • Giao hưởng thơ cung Rê trưởng
  • Tranh giao hưởng Dáng đứng Việt Nam (1974)
  • Bản ballad-giao hưởng (1999)
  • Tác phẩm Mặt trời và niềm tin (2001)
  • Concerto cho piano và dàn nhạc (1983)
  • Các tác phẩm dành cho hợp xướng, trong đó có;
  • Cantata-giao hưởng Việt Nam tiếng hát trái tim ta (1979
  • Bài ca Việt Nam (2001)
  • Âm vang Bình Dường (2002)
  • Tổ khúc giao hưởng-kịch múa Ngọc trai đỏ (1998)
  • Nhạc cho vở ballet Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga (2001)
  • Các tác phẩm nhạc thính phòng, trong đó có:
  • Chủ đề và biến tấu cho piano (1973)
  • Sonata cho piano (1973)
  • Các bản tứ tấu đàn dây:
  • Số 1 (1985)
  • Số 2 (1985)
  • Nhạc cho:
  • Phim
  • Kịch nói
  • Cải lương".
Q.TRANG-N.TÝ