Trước khi đi, tôi hỏi thằng con trai đang học lớp chín, sông Mã ở đâu? Câu trả lời gọn ơ: không biết! Té ra cũng không nên trách kiến thức địa lý của lớp chín phổ thông, vì khi hỏi một đồng nghiệp ở Điện Biên, tôi cũng nhận được hồi đáp lửng lơ rằng, nghe nói nó (sông Mã) bắt nguồn từ đây, chẳng rõ cụ thể là đâu, hình như là ở thung lũng Mường Thanh.

Sông Mã, tiếng Việt – Mường cổ gọi là sông Mạ, có nghĩa sông mẹ, tổng chiều dài 512km. Khởi nguồn từ Điện Biên, qua tỉnh Sơn La, chảy qua Bắc Lào rồi đổ vào tỉnh Thanh Hoá, ra Biển Đông qua cửa chính là cửa Hới (Sầm Sơn) và hai cửa phụ là cửa Lèn và cửa Lạch Trường. Sông Mã tạo nên đồng bằng Thanh Hoá lớn thứ ba Việt Nam.

Mái tóc, một nét đẹp của các cô gái Lào ở đầu nguồn sông Mã

Bất ngờ Nậm Hon

Chúng tôi quyết định bắt đầu từ Tuần Giáo, dưới chân đèo Pha Đin phía Điện Biên, vì nhìn thấy trên bản đồ vệt xanh mờ xuất phát từ đây trước khi nó đậm nét ở Sơn La và được ghi rõ tên là sông Mã.

Ngược đường Tuần Giáo sang Lai Châu chừng năm cây số, dưới chân đèo Hoa, nhìn về bên phải là một thung lũng trải dài những thửa ruộng bậc thang, nằm kẹp giữa hai dãy núi. Đi bộ ra giữa cánh đồng thì gặp dòng suối xuôi chảy về phía Tuần Giáo.

Ghé một nhà sàn hỏi thăm thì biết, đây là Bản Phủ, xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo. Ông chủ nhà Lò Văn Cu, 62 tuổi, người Thái, cũng chỉ biết con suối Nậm Hon này đổ nước vào sông Nậm Núa, còn từ đó nó đi tiếp đâu thì ông cũng không biết.

Đang loay hoay tìm quán nước, chợt có một anh trung niên mời chúng tôi vào nhà uống trà. Khi biết mục đích cuộc tìm kiếm của chúng tôi, chủ nhà nói, các anh đã tìm đúng hướng. Làm cán bộ tuyên huấn huyện hơn 20 năm, lại là người Thái, anh Lò Văn An thuộc hết sông, suối, núi, rừng của Tuần Giáo như cây trong vườn nhà. Suối Nậm Hon bắt nguồn từ thác Bản Phủ, ngược lên chừng ba cây số.

Khi xuôi về phía Điện Biên chừng bảy cây số thì Nậm Hon gặp dòng suối thứ hai, là Nậm Sát, từ Mường Thính chảy ra, góp nước vào. Đi tiếp đến cây số 16 thì gặp dòng suối thứ ba là Nậm Cô, đổ xuống từ Mường Ảng. Bắt đầu từ đây, suối lớn thành sông. Sông ngoặt hướng đông nam, chảy qua Búng Lau, đổ vào địa phận Sơn La, có tên mới là Nậm Núa.

Nâm Núa tiếp tục xuôi về nam, đến ngã ba Pắc Ma thì gặp dòng thứ hai từ huyện Điện Biên Đông chảy sang. Bắt đầu từ điểm hợp lưu này, con sông Mã chính thức thành tên.

Để chắc ăn, chúng tôi tìm đến thung lũng Mường Thanh trong lòng chảo Điện Biên, tận mắt thấy con sông chảy dọc thung lũng có tên là Nậm Rốm. Hoá ra Nậm Rốm chẳng dính líu gì với sông Mã, nó cũng sang Lào, qua Mường Mẩy, đổ vào sông Nậm U ở ngã ba Sop Ạt, đi tiếp theo hướng tây nam và đổ vào sông MeKong tại ngã ba Pạc U, tỉnh Luang Prabang…

Đầu nguồn thứ hai

Một nhánh đầu nguồn khác của sông Mã được xác định từ Mường Luân, huyện Điện Biên Đông. Từ thị trấn, sau bảy cây số dốc núi thì con đường gặp dòng suối Lư cắt ngang. Để đi tiếp, chúng tôi phải thuê một xe công nông cải tiến. Ngoài phương tiện này, chỉ có thể đến Mường Luân bằng cách cuốc bộ. Nhưng chỉ cần một trận mưa lớn, chiếc xe cải tiến này cũng phải chịu nằm đường. May mắn là trời không mưa. Dù thế, chúng tôi vẫn phải xuống xe để đi bộ nhiều đoạn. Gần toàn bộ cung đường này treo trên những triền núi đất cheo leo, men bên những vực sâu cả trăm mét, đầy những vũng lầy, nên chúng tôi phải mất hơn bốn giờ cho đoạn đường chỉ 23km.

Con đường rừng vẫn men theo dòng suối Lư len lỏi qua các hẻm núi. Bắt đầu từ cầu treo Pa Pạt, suối mới hiện dần thành sông, dốc chảy ầm ầm trong vô vàn ghềnh đá.

Bất ngờ với chúng tôi, Mường Luân là một bản Lào.

Ngôi tháp cổ ở Mường Luân, một trong bốn ngôi tháp cổ nhất nước ta

Hơn bốn thế kỷ định cư

Theo lịch cổ của người Lào, thời điểm hiện tại đang là tháng 10. Tết lúa mới bắt đầu vào ngày trăng tròn đầu tiên của tháng 10 và kéo dài trong bảy ngày. Trong bảy ngày tết ấy, mỗi gia đình người Lào tự chọn cho mình một ngày mà họ cho rằng đó là ngày tốt, không mắc phải những điều kiêng kỵ, để làm lễ cúng. Người Lào Mường Luân sống chủ yếu từ việc canh tác lúa nếp nương, mỗi năm hai vụ. tết lúa mới là vào vụ thu hoạch đầu tiên, có ý nghĩa mừng được mùa và cầu phúc cho vụ sau. Đây cũng là dịp người sống dâng lễ vật khao đãi tạ ơn ma nhà (tổ tiên và những người quá cố trong họ tộc).

Sự có mặt của người Lào ở Mường Luân bắt đầu từ gần cuối thế kỷ 16.

Bằng chứng là ngôi tháp cổ nằm ngay đầu bản. Tháp Mường Luân là một trong bốn ngôi tháp cổ nhất nước ta (ba tháp còn lại là tháp Vĩnh Hưng ở Bạc Liêu, tháp Phổ Minh, Nam Định và tháp Bình Sơn, Vĩnh Phúc). Tháp được xây dựng vào khoảng những năm 1570 đến 1590. Đây là thời kỳ nước Lào bị Miến Điện xâm lược, khiến một số dân Lào tản cư sang các nước Đông nam Á lân cận, họ đã đến Mường Luân và định cư lâu dài cho đến ngày nay.

Nhan sắc… tóc

Trong bảy ngày tết lúa mới, hầu như đêm nào nhà văn hoá cộng đồng của bản cũng diễn ra các cuộc tụ tập đốt lửa và múa hát tận khuya. Sinh hoạt hội hè này hình như chính yếu là dành cho nữ giới, sau đó là trẻ em. Thanh niên trai tráng cũng có đến, nhưng họ chỉ đứng ở vòng ngoài một lúc rồi tản về các nhà để uống rượu.

Không chỉ những cô, những chị trong đội múa của bản mà tất cả chị em đến dự đêm hội đều có mái tóc được chải, vấn một cách công phu, cầu kỳ và thật đẹp. Hỏi các chị đã ngoài 40, làm sao để giữ được mái tóc đen nhánh, dài chấm gót và óng mượt đến thế?

Tất cả đều cho biết, chỉ nhờ nước gạo. Nước vo gạo được họ ủ chua từ hai đến năm ngày tuỳ vào mùa nóng hay mùa lạnh thì sẽ thành một thứ thuốc dưỡng tóc. Sau chừng nửa giờ gội ủ, tóc được xả thật sạch bằng nước sông.

Với các cô gái Lào, mái tóc không chỉ biểu hiện nét nhan sắc mà còn là nét công dung ngôn hạnh hàng đầu…

Theo Nguyễn Trọng Tín (SGTT)

__________________________________

Bài 2: Vùng đất mang tên sông