Bộ Giáo dục nói về bác sĩ chuyên khoa 1, chuyên khoa 2
(PLO)- Các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Đức, Trung Quốc… không có quy định về đào tạo bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ nội trú trong Luật Giáo dục đại học.

Ngày 6-11, bà Nguyễn Thị Kim Phụng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (GDĐH), Bộ GD&ĐT, đã có ý kiến phúc đáp những vướng mắc xung quanh vấn đề đào tạo bác sĩ.

Bộ Giáo dục nói về bác sĩ chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 - ảnh 1
Sắp tới sẽ không quy định về đào tạo bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ nội trú trong Luật Giáo dục đại học? Ảnh minh họa: HP

Trước đó, trả lời Pháp Luật TP.HCM, ông Nguyễn Minh Lợi, Phó Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, thành viên Tổ tư vấn đổi mới của Bộ Y tế, cho rằng dự thảo Luật GDĐH hiện chưa đề cập đến đặc thù trong đào tạo nhân lực y tế, trong đó có nội dung rất quan trọng của luật là về trình độ và văn bằng GDĐH.

Vụ trưởng Vụ GDĐH Nguyễn Thị Kim Phụng khẳng định việc quy định tên văn bằng gắn với tên vị trí việc làm (bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư…) trong hệ thống giáo dục quốc dân không phổ biến trên thế giới.

Cụ thể, khi sửa Luật GDĐH, tiếp thu ý kiến của Bộ Y tế, ở một số dự thảo trước, ban soạn thảo đã đưa vào nhiều quy định về nhân lực (bác sĩ, dược sĩ…) như Điều 6 (quy định về trình độ đào tạo), Điều 33 (mở ngành đào tạo), Điều 37 (tổ chức đào tạo), Điều 38 (cấp văn bằng chứng chỉ), Điều 45 (liên kết đào tạo)... và giao cho Chính phủ quy định chi tiết các vấn đề đó.

Tuy nhiên, trong quá trình lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia, các đoàn đại biểu Quốc hội, ban soạn thảo nhận được nhiều ý kiến khác nhau. Một số ý kiến cho rằng các trình độ của GDĐH chỉ nên là cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ như hầu hết các nước khác. Nếu quy định trình độ tương đương thì không minh bạch; khó có cơ chế kiểm soát. Nếu quá nhiều điều giao cho Chính phủ quy định sẽ làm rối và có thể làm giảm hiệu lực của văn bản luật…

Để văn bản luật có tính liền mạch, ổn định, tránh tình trạng mỗi điều, mỗi vấn đề lại có quy định riêng bên cạnh..., ban soạn thảo đã tổng hợp các vấn đề cần quy định riêng trong nội dung sửa Điều 73 và giao cho Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về xác định chỉ tiêu tuyển sinh, thời gian đào tạo, chương trình đào tạo, điều kiện tổ chức đào tạo, quản lý đào tạo, trình độ tương đương, văn bằng, chứng chỉ.

"Ngoài Điều 73 quy định tổng hợp về tám vấn đề cần quy định riêng cho chương trình định hướng nghề nghiệp chuyên sâu phù hợp với lĩnh vực sức khỏe và một số lĩnh vực khác, dự thảo còn ba điều có quy định riêng cho lĩnh vực sức khỏe là Điều 33 (mở ngành đào tạo), Điều 37 (tổ chức đào tạo), Điều 45 (liên kết đào tạo). Như vậy, có thể nói hầu hết các đề xuất của Bộ Y tế đã được ban soạn thảo tiếp thu, chỉ khác về kỹ thuật thể hiện trong dự thảo mà thôi" - đại điện Bộ GD&ĐT chỉ rõ.

Bộ Y tế cho rằng trong đào tạo y khoa phải đào tạo song song theo cả hai hướng hàn lâm và chuyên nghiệp, do vậy, nếu không quy định về trình độ cụ thể cho đối tượng đào tạo nhân lực này trong luật, mà giao Chính phủ quy định về xác định chỉ tiêu, thời gian đào tạo… như ở Điều 73 sẽ chỉ làm rối hệ thống thêm mà không giải quyết được việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành y tế.

Đại diện Bộ GD&ĐT cho rằng theo kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới thì việc quản lý tổ chức đào tạo, quy định trình độ nghề và cấp chứng chỉ nghề nghiệp chuyên sâu thường thuộc thẩm quyền của hiệp hội nghề nghiệp hoặc của cơ quan quản lý chuyên môn.

Việc quy định tên văn bằng gắn với tên vị trí việc làm (bác sĩ, dược sĩ...) trong hệ thống giáo dục quốc dân không phổ biến trên thế giới, chỉ gặp trong mô hình đào tạo của Liên Xô và một số nước Đông Âu trước đây.

Tuy nhiên, trong chương trình đào tạo lấy văn bằng của một số nước có tích hợp dạy một số học phần kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu. Những người đã học chương trình đó để lấy văn bằng có thể được miễn các học phần này khi tham gia các chương trình đào tạo nghề nghiệp chuyên sâu.

Ban soạn thảo đã tham khảo Luật GDĐH của một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Đức, Trung Quốc… thì chưa thấy có nước nào quy định về đào tạo bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ nội trú trong Luật GDĐH.

Bà Phụng cũng giải thích quy định chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ ĐH là thạc sĩ trở lên không phải là vấn đề mới trong dự thảo lần này mà đã có từ Luật GDĐH 2012.

Khái niệm chuẩn giảng viên trong Luật GDĐH của hầu hết các nước đều đề cập đến là trình độ và văn bằng của các giảng viên giảng dạy tại cơ sở GDĐH, theo hệ thống văn bằng giáo dục quốc gia. Đa số các nước trong khu vực và trên thế giới còn quy định chuẩn giảng viên trong cơ sở GDĐH phải là tiến sĩ.

Theo luật hiện hành và tiếp nối theo dự thảo, đối với người giảng dạy thực hành tại các cơ sở thực hành của khối ngành sức khỏe có bằng chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 hay nội trú vẫn là giảng viên, nếu đáp ứng các quy định của Nghị định 111/2017 của Chính phủ. Nếu đồng thời có bằng thạc sĩ trở lên thì giảng viên đó được tính hệ số 1,0. Nếu chưa có bằng thạc sĩ trở lên thì giảng viên đó được tính hệ số giảng viên thấp hơn.

HÀ PHƯỢNG