Thời gian qua, dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng trong hệ thống chính trị, đặc biệt là trong các cơ quan nhà nước nhưng tình hình tham nhũng không những chưa có chiều hướng thuyên giảm mà ngày càng phức tạp về quy mô, tính chất.
Luật còn “độ chênh”
Trước đây, ngày 29-11-2005, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 1-6-2006). Luật này là căn cứ pháp lý để đấu tranh với tệ tham nhũng. Tuy nhiên, từ khi ban hành đến nay, các quy định của luật vẫn chưa đi vào cuộc sống.
Luật Phòng, chống tham nhũng quy định 13 hành vi bị coi là tham nhũng. Đó là các hành vi tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi. Cạnh đó là các hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

Một phiên xử về tội phạm tham nhũng tại TAND TP.HCM. Ảnh: HTD
Trong khi đó, BLHS hiện hành mới chỉ quy định bảy hành vi bị coi là tội phạm về tham nhũng là: tội tham ô tài sản; tội nhận hối lộ; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi, tội giả mạo trong công tác.
Lẽ ra năm 2009, khi sửa đổi, bổ sung BLHS đã phải sửa đổi, bổ sung các tội phạm về tham nhũng cho phù hợp với Luật Phòng, chống tham nhũng nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên việc sửa đổi, bổ sung này chưa thực hiện được. Một số hành vi quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng chưa được “hình sự hóa” trong BLHS. Một số hành vi tuy đã được quy định trong BLHS nhưng lại nằm ở các chương khác hoặc chỉ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua.
Tăng thêm tội
Từ đó, việc sửa đổi BLHS, cá thể hóa các hành vi tham nhũng thành các tội phạm cụ thể là yêu cầu cần thiết trong tình hình tham nhũng đang là vấn đề bức xúc, đang là thách thức của toàn Đảng, toàn dân.
Theo tôi, ngoài các tội phạm đã quy định tại mục A Chương XXI BLHS năm 1999 thì cần bổ sung một số tội danh cho phù hợp với Luật Phòng, chống tham nhũng như tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn đưa hối lộ hoặc làm môi giới hối lộ; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước; tội nhũng nhiễu; tội không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; tội bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật; tội cản trở hoặc can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Đồng thời, về kỹ thuật lập pháp, cần sửa đổi, bổ sung các tội phạm tương ứng có quy định hành vi phạm tội tương tự như hành vi tham nhũng nhưng không phải tham nhũng như hành vi đưa hối lộ nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hành vi sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ (thiếu trách nhiệm) nhưng không vụ lợi...
Quy định hình phạt chặt hơn
Về hình phạt, đối với các tội phạm về tham nhũng quy định tại mục A Chương XXI BLHS năm 1999, khung và mức hình phạt đã nghiêm khắc hơn so với các tội phạm tội khác. Tuy nhiên, khi áp dụng, do có những quy định khác của BLHS nên các tòa đã không áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với người phạm tội tham nhũng. Nhiều trường hợp phạm tội tham ô, nhận hối lộ có giá trị tài sản đặc biệt lớn lên tới hàng tỉ đồng nhưng chưa có bị cáo nào bị áp dụng hình phạt tử hình. Mặt khác, việc vận dụng Điều 47 BLHS để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc cho bị cáo hưởng án treo tràn lan đã khiến dư luận không đồng tình.
Vì vậy, BLHS sửa đổi cần có quy định chặt chẽ hơn đối với người phạm tội tham nhũng. Ví dụ: tham ô, nhận hối lộ từ bao nhiêu trở lên là tử hình, không kể người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ; không áp dụng Điều 47 BLHS đối với người phạm tội tham nhũng dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Cạnh đó, cần nghiên cứu về việc không cho người phạm tội hưởng án treo nếu tội phạm mà người đó thực hiện là tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; tốt nhất là nghiên cứu bỏ chế định án treo trong BLHS và nghiên cứu quy định hình phạt tù chung thân không giảm án. Ngoài ra, cũng cần nâng mức hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các tội phạm về tham nhũng; quy định hình phạt tịch thu tài sản là bắt buộc đối với một số tội tham nhũng, nhất là đối với các hành vi có thu lợi bất chính lớn...
| Lập chương riêng về tội phạm tham nhũng Nên sửa đổi tên gọi của Chương XXI là “Các tội phạm về tham nhũng” và chỉ quy định trong chương này các tội phạm về tham nhũng, còn các tội phạm khác có dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì đưa về các chương khác tùy theo khách thể bị xâm phạm. Nếu BLHS có một chương riêng như vậy đối với các tội phạm về tham nhũng thì sẽ có ý nghĩa lớn về quan điểm, chủ trương phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, không chỉ đối nội mà còn có tác dụng to lớn cho chính sách đối ngoại. Mặt khác, việc nêu khái niệm các tội phạm về tham nhũng cũng thuận lợi hơn. BLHS cần có một điều luật nêu khái niệm tham nhũng như Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng (tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi…). |
ĐINH VĂN QUẾ