Chị N. đã cố gắng chịu đựng nhưng anh vẫn chứng nào tật nấy nên tháng 2-2017, chị cùng hai con về nhà cha mẹ ruột sinh sống và nộp đơn xin ly hôn tại TAND huyện Phú Hòa.

Quá trình thụ lý, giải quyết, TAND huyện Phú Hòa xác minh thì anh Đ. không có mặt ở địa phương, chị N. cũng không biết anh đang ở đâu. Do đó, chị N. rút đơn kiện để xác định địa chỉ của anh Đ. và tháng 4-2017, tòa ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Tháng 6-2017, chị N. làm đơn xin ly hôn lần thứ hai. Tuy nhiên, qua xác minh anh Đ. vẫn vắng mặt tại địa phương nên chị N. lại rút đơn khởi kiện và tòa một lần nữa đình chỉ giải quyết vụ án.

Sau hai lần khởi kiện xin ly hôn không thành, tháng 10-2017, chị N. lại viết đơn xin ly hôn nộp cho tòa.

Lần này tòa áp dụng hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao (có hiệu lực từ ngày 1-7-2017) để giải quyết trường hợp của chị N.

Theo đó, trường hợp sau khi thụ lý vụ án, tòa không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn không còn cư trú tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì tòa giải quyết như sau: Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và tòa tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ giải quyết vụ án với lý do không tống đạt được cho bị đơn.

Theo hướng dẫn trên, tòa vẫn thụ lý vụ án, tiến hành tống đạt hợp lệ cho anh Đ. theo quy định. Sau đó, tòa mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ, hòa giải không thành… Mới đây, tòa đã đưa vụ án ra xử vắng mặt anh Đ., tuyên chấp nhận cho chị N. được ly hôn với anh Đ., được nuôi hai con chung, anh Đ. có trách nhiệm cấp dưỡng 1,3 triệu đồng/tháng cho hai con.