Phạm tội mà vẫn được tha nhờ nguyên tắc hoà giải
(PL)- Có một quy định tiến bộ, có lợi cho người phạm tội được quy định trong BLHS 2015 mà nhờ đó người phạm tội có thể được tha bổng... 

Khoản 3 Điều 29 BLHS 2015 quy định: Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) thì có thể được miễn TNHS.

Đây là quy định mới so với BLHS 1999 và cũng là quy định có lợi cho người phạm tội, được áp dụng ngay mà không cần phải chờ đến sau 0 giờ ngày 1-1-2018. Có thể nói đây là một nguyên tắc hòa giải trong luật hình sự nhằm giữ gìn sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân.

Cần lưu ý, việc hòa giải giữa người phạm tội với người bị hại chỉ đối với hai loại tội phạm, đó là tội phạm ít nghiêm trọng (không phân biệt tội phạm do cố ý hay vô ý) hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý (mà) gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác. Còn đối với các tội phạm khác (tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng - không phân biệt do cố ý hay vô ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) thì không được hòa giải để người bị hại đề nghị miễn truy cứu TNHS đối với người phạm tội.

Phạm tội mà vẫn được tha nhờ nguyên tắc hoà giải - ảnh 1
Ông Nông Văn Thụt, người tố phó chánh án nhận hối lộ, có thể được tha vì người bị hại đã tự nguyện hoà giải, có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho ông. Ảnh: PLO

Có ý kiến cho rằng tinh thần điều luật trên chỉ áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng do vô ý, chứ không áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý. Đúng là có nhiều điều luật trong BLHS 2015 do kỹ thuật lập pháp nên cần phải có trình độ hiểu biết hoặc giải thích khoa học thì mới hiểu đúng được. Nhưng đối với khoản 3 Điều 29, có lẽ không cần phải giải thích nhiều thì gần như mọi người đều hiểu một nghĩa thống nhất rằng nhà làm luật quy định áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm trọng (không phân biệt tội phạm do cố ý hay vô ý) và tội phạm nghiêm trọng do vô ý. Điều luật quy định rất rõ “người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý”, chứ không quy định “người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, (phẩy) tội phạm nghiêm trọng do vô ý” hoặc “người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng tội phạm nghiêm trọng do vô ý”.

Theo logic hình thức thì từ hoặc là “tuyển mạnh” (còn gọi là phán đoán tuyển tuyệt đối), tức là hoặc A hoặc B, chứ không thể cả A và B được. Khi nhà làm luật đã dùng kết từ “hoặc” là từ biểu thị quan hệ giữa nhiều (thường là hai) khả năng khác nhau, không khả năng này thì khả năng kia, ít nhất có một khả năng được thực hiện. Vì vậy, không thể hiểu chỉ người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng do vô ý mới thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS 2015.

Tương tự, BLHS 2015 có nhiều điều luật nhà làm luật dùng kết từ “hoặc”. Ví dụ: Điều 41 BLHS 2015 quy định về hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Thời hạn cấm là 1-5 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

Ngoài ra, khi người bị hại đề nghị miễn TNHS cho người phạm tội thì cơ quan tố tụng có thể miễn hoặc không chứ không phải đương nhiên miễn. Muốn vậy cơ quan tố tụng phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ… để quyết định. Khi quyết định không miễn, cơ quan tố tụng vẫn có thể xem đề nghị của bị hại là tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình, đồng thời giải thích cho người bị hại biết vì sao không miễn TNHS cho người phạm tội được.

ĐINH VĂN QUẾ, nguyên Chánh Tòa Hình sự TAND Tối cao