Vụ đình chỉ để né bồi thường: Miễn tội sao mới đúng?
(PL)- Theo luật, miễn trách nhiệm hình sự do “hành vi phạm tội không còn nguy hiểm…” khác hoàn toàn với “người phạm tội không còn nguy hiểm…”.

Sau khi Pháp Luật TP.HCM phản ánh việc Công an huyện Nhà Bè (TP.HCM) đình chỉ điều tra, miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với ông Nguyễn Hồng Nhật, nhiều chuyên gia nhận định ông Nhật bị oan. Cạnh đó, CQĐT còn áp dụng sai Điều 29 BLHS 2015. Cụ thể, CQĐT xác định hành vi phạm tội của ông Nhật không còn nguy hiểm cho xã hội nữa nhưng không áp dụng quy định về trường hợp này (điểm a khoản 1) mà lại áp dụng quy định về trường hợp người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (điểm a khoản 2). Trong khi đó, đây là hai trường hợp khác nhau, được quy định ở hai điều khoản khác nhau tại Điều 29.

Phân biệt hai trường hợp

Nhiều bạn đọc thắc mắc: Theo luật, trường hợp hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa có khác gì trường hợp người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa?

Theo TS Phan Anh Tuấn (Trường ĐH Luật TP.HCM), điểm a khoản 1 Điều 29 BLHS 2015 quy định người phạm tội được miễn TNHS khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa có thể là:

BLHS đã không coi hành vi đó là tội phạm. Chẳng hạn, BLHS 1999 quy định đánh bạc từ 2 triệu đồng trở lên (trong trường hợp bình thường) thì bị xử lý hình sự về tội đánh bạc nhưng BLHS 2015 quy định đánh bạc từ 5 triệu đồng trở lên (trong trường hợp bình thường) thì mới bị xử lý hình sự về tội này. Như vậy, hiện nay hành vi đánh bạc dưới 5 triệu đồng không còn là tội phạm nữa.

Vụ đình chỉ để né bồi thường: Miễn tội sao mới đúng? - ảnh 1
Ông Nguyễn Hồng Nhật, người đang khiếu nại kêu oan. Ảnh: YC

Cạnh đó, có thể tuy hành vi phạm tội vẫn còn quy định trong BLHS (do chưa kịp sửa đổi, bổ sung) nhưng pháp luật chuyên ngành về lĩnh vực đó đã thay đổi dẫn đến hành vi đó không còn bị nghiêm cấm nữa. Việc đưa ra xử lý hình sự người có hành vi phạm tội này sẽ không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

Còn điểm a khoản 2 Điều 29 BLHS quy định người phạm tội có thể được miễn TNHS khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. (Lưu ý trường hợp này chỉ có thể được miễn TNHS chứ không đương nhiên được miễn TNHS.)

Người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa được hiểu là trường hợp sau một thời gian dài kể từ ngày phạm tội, người phạm tội đã chấp hành đúng quy định pháp luật, chăm chỉ lao động, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, các phong trào thi đua của địa phương, tự giác thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân, có thành tích trong lao động, học tập, công tác, chiến đấu được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định khen thưởng hoặc xác nhận...

Trở lại vụ án của ông Nhật, TS Tuấn khẳng định ông Nhật không rơi vào trường hợp nào ở trên để miễn TNHS: Đối với tội mà ông Nhật bị cáo buộc là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì từ năm 2006 đến nay không có sự thay đổi nào về chính sách hoặc thay đổi nào về pháp luật làm cho hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Mặt khác, ông Nhật không thuộc diện có thành tích trong lao động, học tập, công tác, chiến đấu được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định khen thưởng hoặc xác nhận... Do đó, việc áp dụng điểm a khoản 1 hay điểm a khoản 2 Điều 29 BLHS 2015 đối với ông Nhật đều không đúng.

“Bản chất của vụ án là ông Nhật không phạm tội vì không có hành vi chiếm đoạt tài sản của chủ nợ. Do đó, thay vì miễn TNHS không có căn cứ pháp lý thì cơ quan tố tụng phải xác định ông bị oan” - TS Tuấn nói.

Nếu làm oan, cán bộ tố tụng bị gì?

Bên cạnh đó, nhiều bạn đọc cũng thắc mắc: Theo quy định, nếu cán bộ tố tụng làm oan cho người vô tội thì bị xử lý sao?

Theo TS Tuấn, trước hết là trách nhiệm kỷ luật theo nội bộ ngành. Hiện nay, mỗi ngành tố tụng có quy định khác nhau.

Cụ thể, theo Quyết định số 183/2016 của viện trưởng VKSND Tối cao, kiểm sát viên có thể bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc hạ bậc lương nếu thiếu trách nhiệm để xảy ra việc đình chỉ điều tra bị can, đình chỉ vụ án do không phạm tội hoặc tòa án ra bản án tuyên bị cáo không phạm tội đã có hiệu lực pháp luật. Nếu thiếu trách nhiệm dẫn đến trong một năm công tác để xảy ra việc đình chỉ do bị can không phạm tội đối với từ hai bị can trở lên, hoặc tòa án ra bản án có hiệu lực pháp luật tuyên không phạm tội đối với từ hai bị cáo trở lên thì có thể bị xử lý kỷ luật bằng hình thức giáng chức, cách chức hoặc buộc thôi việc.

Đối với ngành tòa án, theo quy định của chánh án TAND Tối cao (Quyết định 120/2017), thẩm phán bị bố trí làm công việc khác khi ra bản án tuyên bị cáo có tội nhưng sau đó có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án có thẩm quyền tuyên bị cáo đó không có tội. Thẩm phán cũng bị bố trí làm công việc khác trong trường hợp hủy bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm. Kết thúc nhiệm kỳ, thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại.

Tùy từng trường hợp, cán bộ tố tụng làm oan người vô tội còn có thể bị xem xét truy cứu TNHS và bồi hoàn tiền bồi thường thiệt hại cho người bị oan theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

VKSND TP.HCM đang kiểm tra

Theo đại diện VKSND TP.HCM, VKSND huyện Nhà Bè đã chuyển hồ sơ lên VKSND TP để kiểm tra việc đình chỉ và VKSND TP đang kiểm tra, thẩm định. Nếu kết quả kiểm tra, thẩm định thấy quyết định đình chỉ là đúng thì giữ nguyên, nếu sai VKSND TP sẽ chỉ đạo VKSND huyện Nhà Bè khắc phục và xử lý theo quy định.

Theo hồ sơ, từ năm 2006 đến 2014, ông Nguyễn Hồng Nhật nhiều lần môi giới cho bà Nguyễn Thị Huấn mua đất ở Nhà Bè. Bà Huấn đưa tổng cộng 459 triệu đồng cho ông Nhật để nhờ ông thực hiện các thủ tục nhà đất. Sau đó có việc ông Nhật làm được cho bà Huấn, có việc ông chưa làm. Từ tháng 8-2014, hai bên gặp nhau mấy lần làm giấy xác nhận và thỏa thuận miệng là ông Nhật có nợ tiền bà Huấn và hứa sẽ trả tiền. Do ông Nhật chưa trả nợ nên tháng 7-2015, bà Huấn tố cáo ông chiếm đoạt tài sản.

Công an, VKSND huyện Nhà Bè cho rằng ông Nhật không thực hiện, không làm đúng thủ tục theo thỏa thuận, làm không hết tiền cũng không trả lại tiền cho bà Huấn nên khởi tố, truy tố ông về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tháng 1-2017, TAND huyện Nhà Bè xử sơ thẩm, phạt ông Nhật bảy năm tù về tội này.

Bản án trên đã bị TAND TP.HCM xử phúc thẩm hủy toàn bộ vì chưa đủ căn cứ xác định ông Nhật phạm tội gì. Tháng 6-2018, CSĐT ra quyết định đình chỉ điều tra với lý do “do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Hiện ông Nhật (bị tạm giam gần hai năm) đang khiếu nại kêu oan.

YẾN CHÂU