Ở Quảng Nam có dòng họ Phạm Văn từng hai đời đảm nhận những chức vụ quan trọng trong lực lượng hải quân triều Nguyễn, trong đó có người làm đến chức thủy soái chưởng vệ đại tướng quân, thống lĩnh lực lượng hải quân bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ TP Hội An đi thuyền băng qua Cửa Đại, chúng tôi tìm đến từ đường dòng họ Phạm Văn ở làng An Lương, xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên (Quảng Nam), nơi xuất tích của những vị tướng quân trấn biển triều Nguyễn. Kính cẩn thắp nén nhang lên bàn thờ tổ tiên, những cụ cao niên trong họ Phạm Văn mới lấy cuốn gia phả cùng hai tấm sắc phong ra khỏi ống thư.

Dòng dõi thủy quân

Lật giở từng trang gia phả đã bạc màu thời gian, ông Phạm Văn Lương (85 tuổi) kể lại lai lịch của dòng họ Phạm Văn từ thuở “mang gươm đi mở cõi”, đặt chân đến mảnh đất cát trắng này. “Theo những ghi chép trong gia phả được lập từ năm Minh Mạng thứ 18 (1838) thì tổ tiên dòng họ Phạm Văn đã đặt chân đến Duy Hải vào khoảng năm 1694, sinh sống chủ yếu bằng nghề đi biển, quanh năm gắn mình với biển cả” - ông Lương nói.

Hai tấm sắc phong cổ của dòng họ Phạm Văn vẫn còn nguyên vẹn.

Trong lịch sử của dòng họ có ba người từng giữ chức vụ quan trọng trong quân đội dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng. Trong đó, ông Phạm Văn Đường giữ chức hoàng triều đô úy phó quân cơ, phụ trách bảo vệ nội thành. Con ông Đường là Phạm Văn Cục nối nghiệp cha theo đường binh nghiệp và giữ đến chức thủy sư chưởng vệ, chỉ huy ba đội quân thuộc hải quân. Đến năm thứ 18 đời vua Minh Mạng, một bậc tiền nhân khác của dòng họ là Phạm Văn Trận được giao tới chức thủy soái chưởng vệ đại tướng quân, chỉ huy lực lượng hải quân cả nước.

Tàn nén nhang, ông Lương lên vái lạy rồi mang hai bức sắc phong cho mọi người chiêm ngưỡng. Đó là hai tấm lụa vàng hình chữ nhật dài gần 1 m, được thêu hình rồng, phượng bao quanh. Dù đã gần 200 năm trôi qua nhưng những nét chữ cùng dấu triện đỏ vẫn còn nguyên vẹn. Phía cuối sắc phong bị rách một phần do bị hỏa hoạn trong chiến tranh. “Con cháu trong họ đã truyền đời nhau lưu giữ hai tấm sắc phong này. Nó từng bị thất lạc vào năm 1967 nhưng lại được một nhà chùa ở Hội An cất giữ và trao lại” - ông Lương cho biết.

Thường xuyên tuần lý Hoàng Sa - Trường Sa

Theo bản dịch của một nhà nghiên cứu Hán-Nôm ở Hội An, hai tấm sắc phong này được triều đình ban tặng vào tháng 10 năm Minh Mạng thứ 21 (năm Tân Sửu, 1841). Một trong hai tấm sắc phong dành cho vị Thủy sư chưởng vệ Phạm Văn Cục vì có công bảo vệ biên cương lãnh thổ, tận trung với triều đình. “Tấm sắc phong ca ngợi lòng trung thành, quả cảm, mưu lược của vị tướng thủy quân trong các trận chiến với quân thù. Trong đó cũng đề cập đến tấm gương của người cha là Phạm Văn Đường có công dạy dỗ, huấn luyện cho đất nước một nhân tài kiệt xuất. Bản sắc phong có câu: Hiển dương chi nguyện, mệnh danh bất hủ trường lưu - tức tên tuổi ông sẽ trường tồn mãi mãi” - ông Lương phỏng dịch.

 Con cháu dòng tộc Phạm Văn nối tiếp truyền thống cha ông bám biển. Trong ảnh: Anh Phạm Văn Hùng đang sửa sang thuyền chuẩn bị ra khơi.Ảnh trong bài: TẤN TÀI

Dù trong hai bản sắc phong không nhắc đến nhưng có một người nữa của dòng họ Phạm Văn còn giữ đến chức thủy soái chưởng vệ đại tướng quân, thống lĩnh toàn bộ thủy quân triều Nguyễn, đó là danh tướng Phạm Văn Trận. “Ông Trận là con cháu đời sau của ông Cục nhưng được triều đình tin dùng, thống suất toàn bộ lực lượng thủy binh. Theo lời kể của những bậc cao niên đời trước truyền lại thì cụ Phạm Văn Cục và cụ Phạm Văn Trận là những vị tướng tài ba thao lược, từng chỉ huy các hải đội ra tuần lý vùng biển Hoàng Sa - Trường Sa. Hằng năm, những vị tướng này đều phải báo cáo triều đình về các chuyến hải tuần này. Trai đinh làng biển Duy Hải ngày ấy gia nhập đội thủy quân triều Nguyễn rất đông. Phần lớn họ là dân đi biển lành nghề, được các ông Cục, ông Trận về tận làng tuyển chọn. Nhiều người ở làng biển Duy Hải đã trở thành chỉ huy, binh phu, giong thuyền đi tuần biển Hoàng Sa - Trường Sa” - ông Lương kể.

Trong sắc phong vua ban, bà tam phẩm chánh phu nhân Nguyễn Thị Hốt, vợ của Đô úy phó quân cơ Phạm Văn Đường và là mẹ của ông Phạm Văn Cục, cũng được vua ngợi khen là người đàn bà đoan chính, đảm đang, hết lòng vì lo cho gia đình để chồng, con cống hiến cho đất nước. Sắc phong ghi rõ: Đức thục trường lưu bất hủ chi danh - tức là đức độ của bà lưu danh vĩnh cửu (bản dịch của họ Phạm Văn).

Anh Phạm Văn Hùng, con cháu của tộc họ Phạm Văn ở Duy Hải, dẫn chúng tôi ra thăm bia mộ của cụ tổ mình. “Sau khi cụ Trận qua đời, triều đình Huế đã cho tạo lập hai tấm bia mộ để tưởng nhớ. Một tấm đặt ở kinh thành Huế, tấm còn lại đưa về làng An Lương để con cháu tôn thờ” - anh Hùng cho biết. Tấm bia cổ cao hơn nửa mét, được khắc chữ Hán trên mặt phiến đá Non Nước bóng loáng, bền chắc. Xung quanh bia có chạm trổ hoa văn rồng, phượng tinh xảo. Theo bản dịch của các nhà nghiên cứu Hán-Nôm ở Quảng Nam thì trên tấm bia có đề tước hiệu Thủy sư.

Nối bước cha ông bám biển

Nối nghiệp cha ông xông pha nơi đầu sóng để giữ gìn biển, đảo, những thế hệ con cháu đời sau của dòng họ Phạm Văn như anh Phạm Văn Hùng lại đóng tàu, vươn khơi bám biển. “Nhiều lúc cũng thử rời biển tìm một công việc mới nhưng rồi lại thấy tay chân bủn rủn, người cứ buồn buồn khó tả. Cuối cùng, chúng tôi lại trở về nghề biển như cái nghiệp của cha ông đi trước. Phần lớn con cháu trong họ đều gắn mình với biển cả, xem đó là nhà. Ven theo dải biển miền Trung từ Quảng Nam đến Bình Thuận đều có con cháu họ Phạm Văn đóng tàu, vươn khơi bám biển” - anh Hùng nói.

Anh Hùng kể mình vừa trở về sau một chuyến đi biển dài ngày giờ lại tất bật lo sửa chữa tàu để chuẩn bị cho chuyến đi biển mới. “Chuyến biển vừa rồi được mùa cá, mực nên ai cũng phấn khởi. Tôi dự định đầu tư, tăng công suất tàu để vươn khơi xa hơn, dài ngày hơn” - anh Hùng tâm sự.

Năm 2006, cơn bão Chanchu càn quét các làng biển miền Trung khiến nhiều tàu thuyền hư hỏng nặng. Tàu cá của anh Hùng may mắn thoát bão về cập bến nhưng cũng bị sóng đánh hỏng bánh lái. “Hồi ấy, gia đình tôi đã rao bán thuyền để chuyển hẳn lên bờ. Nhưng rồi cứ nghĩ đến cha ông mình từng bao đời đổ máu xương để giữ biển nên cả nhà lại hùn tiền đóng thuyền quyết tâm ra biển. Ngày trước, vùng Cửa Đại này tấp nập tàu cá, chuyên đánh bắt vùng biển Hoàng Sa - Trường Sa nhưng giờ đếm lại chỉ còn trên đầu ngón tay. Các cụ vẫn thường động viên con cháu trong họ phải nối tiếp chí nghiệp cha ông quyết tâm bám biển, vừa để nuôi sống mình, vừa góp phần bảo vệ vùng biển chủ quyền của Tổ quốc” - anh Hùng nói.

Tư liệu quý về chủ quyền biển, đảo

Ông Phạm Bính, Phó Giám đốc Bảo tàng Văn hóa tỉnh Quảng Nam, nói: “Hiện chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu và dịch lại hai tấm sắc phong nói trên. Nếu quả thực đây là hai tấm sắc phong cổ do triều đình ban tặng cho các tướng lĩnh thủy quân thì nó có giá trị rất lớn. Đây sẽ là tư liệu quý góp phần chứng minh từ xa xưa nước ta đã xác lập chủ quyền và quản lý hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa”.

Ông Bính cho biết thêm, hiện một số dòng họ ở các vùng ven biển như họ Lê ở xã Tam Thăng (Tam Kỳ, Quảng Nam), họ Trần ở xã Tam Xuân (Núi Thành, Quảng Nam) cũng đang giữ các bức sắc phong cổ do triều đình ngày xưa ban tặng cho các vị thủ lĩnh hải quân có công giữ biển.

TẤN TÀI