Có nhiều ý kiến về số lượng ngân hàng ở Việt Nam dựa trên chỉ tiêu số dân trên một ngân hàng hay số lượng tài khoản ngân hàng trên bình quân đầu người. Người viết dùng một chỉ tiêu khác để đánh giá mật độ là quy mô GDP tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái tính trên một ngân hàng.
Theo đó, con số này của Việt Nam vào khoảng 1,3 tỉ USD/ngân hàng (nếu tính trên số ngân hàng thương mại), nếu tính trên một tổ chức tín dụng thì chỉ có 0,06 tỉ USD. Trong khi đó, chỉ số này ở Bồ Đào Nha là 1 tỉ USD; của Singapore là 1,3 tỉ USD; của Indonesia là 2,3 tỉ USD; của Italia là 2,4 tỉ USD; của Pháp là trên 2,5 tỉ USD; của Malaysia trên 4,7 tỉ USD; của Thái Lan 6,9 tỉ USD. Điều này cho thấy, số lượng tổ chức tín dụng của Việt Nam thuộc loại cao, chưa thật cần thiết phải tăng lên.
Điều quan trọng không phải ở số lượng mà là chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng. Trong điều kiện thị trường tài chính có các yếu tố bất lợi, việc giám sát rủi ro của cơ quan quản lý còn thiếu và yếu, tình hình quản trị của các tổ chức tín dụng còn hạn chế, bất cập, thì việc tạm dừng thành lập ngân hàng mới để củng cố hệ thống tổ chức tín dụng hiện có là cần thiết. Chính vì vậy mà ngân hàng Nhà nước đã ra thông báo tạm dừng thành lập các ngân hàng thương mại cổ phần mới nhằm nghiên cứu các tiêu chí thành lập ngân hàng thương mại cổ phần, trong đó ngoài điều kiện vốn, còn cần đến các điều kiện khác như năng lực quản lý, năng lực quản trị doanh nghiệp, công nghệ thông tin và nhân lực.
Theo Minh Anh ( SGTT)