Thí điểm mô hình tàu cá mẹ-con

Sáng 22-4, tại TP Đà Nẵng, Viện Nghiên cứu Hải sản, Bộ NN&PTNT đã tổ chức Hội thảo Xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ ở vùng biển miền Trung với sự tham dự của đại diện ngư dân các tỉnh từ Quảng Bình đến Ninh Thuận.

Hai mô hình thí điểm

Ông Phạm Huy Sơn, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Nghiên cứu Hải sản, cho hay ngư dân miền Trung đang đối mặt với rất nhiều khó khăn vì giá nguyên vật liệu ngày càng tăng, nguồn lợi hải sản giảm, ngư trường bị thu hẹp với sự cản trở của tàu nước ngoài và giá hải sản không ổn định. “Trước thực trạng này, Bộ NN&PTNT giao cho chúng tôi nghiên cứu để tìm ra một mô hình đánh bắt và thu mua hải sản hiệu quả nhất. Chúng tôi phải giải quyết bài toán giảm chi phí, giảm thời gian vận chuyển, tăng thời gian khai thác đối với tàu cá xa bờ để vừa có hiệu quả vừa đảm bảo chất lượng. Cùng với việc tìm ra mô hình đánh bắt, thu mua có hiệu quả còn phải tạo được mối liên kết bền vững, tương trợ lẫn nhau giữa các ngư dân khi gặp nạn” - ông Sơn nói.

Thí điểm mô hình tàu cá mẹ-con ảnh 1

Tàu dịch vụ hậu cần nghề cá (một dạng tàu mẹ) của TP Đà Nẵng thu mua cá của ngư dân miền Trung ngay trên biển. Ảnh: LÊ PHI

Hiện tại, Viện Nghiên cứu Hải sản cùng ngư dân 11 tỉnh, thành từ Quảng Bình đến Ninh Thuận đã xây dựng được hai mô hình đánh bắt và dịch vụ hậu cần nghề cá cho ngư dân miền Trung là: “Mô hình luân phiên vận chuyển sản phẩm về bờ” và “Mô hình tàu mẹ-tàu con”.

Theo Viện Nghiên cứu Hải sản, ưu điểm của mô hình luân phiên (quy mô 6-7 chiếc) là giảm được chi phí sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm, tăng số ngày khai thác và tăng tình đoàn kết của ngư dân trên biển. Tuy nhiên, khó khăn nhất của mô hình này là vốn đầu tư lớn (5-10 tỉ đồng/mô hình) nên ít ngư dân có điều kiện đầu tư. Về phần vốn, theo Viện Nghiên cứu Hải sản, có thể giải quyết được nếu Nhà nước hỗ trợ và các ngư dân cùng nhau góp vốn làm, ăn chia theo tỉ lệ.

“Từ tháng 5 đến tháng 10 tới đây, chúng tôi sẽ cùng các ngư dân miền Trung thực hiện thí điểm hai mô hình đánh bắt và thu mua này” - ông Sơn cho biết.

Một “mẹ” ra khơi cùng 25 “con”

Đến năm 2020, cả nước phấn đấu có 25.000 tàu đánh bắt xa bờ; củng cố và phát triển các mô hình dịch vụ tiêu thụ sản phẩm trên biển, có lộ trình phù hợp để chuyển nhanh các tàu cá vỏ gỗ sang vỏ thép, vật liệu mới…

Đối với mô hình tàu mẹ-tàu con thì một tàu mẹ có thể đảm nhận mua hàng cho 25 tàu con (tàu khai thác). Các tàu con khi ra biển đánh bắt sẽ tản ra từng khu vực khác nhau để tìm kiếm ngư trường, luồng cá. Khi tàu nào phát hiện có ngư trường tốt, nhiều hải sản thì thông báo cho các tàu thành viên đến khai thác. Trong quá trình khai thác, các tàu con phải liên tục liên lạc với tàu mẹ để thông báo tình hình về sản lượng, vị trí khai thác, thỏa thuận giá cả và thông báo nguyên liệu cần mang ra cung ứng. Khi tàu mẹ ra biển thu mua hải sản sẽ lấy hàng từ trong ra ngoài rồi quay lại từ ngoài vào trong để giảm chi phí di chuyển.

“Nếu áp dụng theo mô hình này thì chi phí dầu của các tàu con sẽ thấp hơn so với kiểu đánh bắt truyền thống. Chi phí sản xuất sẽ giảm, chất lượng hải sản được tăng lên trong khi tàu con có thêm thời gian đánh bắt. Đặc biệt, các ngư dân sẽ yên tâm hơn khi đánh bắt được thì đã có ngay người tiêu thụ” - ông Nguyễn Phi Toàn, Trưởng phòng Nghiên cứu Công nghệ khai thác - Viện Nghiên cứu Hải sản, cho biết.

Tại hội thảo này, Viện Nghiên cứu Hải sản kiến nghị Nhà nước cần đưa ra các cơ chế, chính sách cụ thể để khuyến khích các chủ tàu thành lập các mô hình tàu mẹ-tàu con. Ngoài việc hỗ trợ vốn, Nhà nước cũng cần phải mở các lớp tập huấn để ngư dân áp dụng hai mô hình trên, nhằm vừa khai thác đánh bắt hải sản có hiệu quả vừa thường trực đánh bắt trên ngư trường truyền thống. Mặt khác, chính quyền và cơ quan quản lý nghề cá địa phương phải có cơ chế giám sát giá cả để hạn chế việc đầu cơ, ép giá gây thiệt hại cho ngư dân.

LÊ PHI