Theo lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, việc cung ứng tiền mặt sẽ được kiểm soát chặt chẽ nhưng vẫn cấp vốn cho một số ngành, lĩnh vực, địa bàn thuộc khu vực sản xuất. Riêng các nhu cầu phi sản xuất sẽ phải “hạn chế cho vay”.

Dĩ nhiên với một “đơn thuốc” như trên không chỉ “căn bệnh” lạm phát mà nhiều bộ phận khác của cơ thể sẽ chịu nhiều hệ lụy. Đầu tiên là các nhà đầu tư ngắn hạn quen “lướt sóng” chứng khoán và căn hộ chung cư sẽ ngán ngẩm bởi cơ hội “ấm lên” như kỳ vọng sẽ không còn. Sau nữa là các doanh nghiệp kinh doanh hàng nhập khẩu, vận tải, dịch vụ… sẽ phải tiếp tục gồng mình.

Lý giải cho “đơn thuốc này”, nhiều chuyên gia đã cho rằng Ngân hàng Nhà nước đã quá cẩn trọng trước nguy cơ lạm phát sẽ trở lại mà nguyên nhân bắt nguồn từ việc tăng trưởng tín dụng 2009 quá nóng, bỏ xa mức 30% mà cơ quan này đặt ra.

Theo ông Vũ Đình Ánh, Viện phó Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính), thì “Câu chuyện không phải tăng trưởng tín dụng mức 40% hay 30% mà điều đáng lo ngại là chúng ta khó có thể kiểm soát được con số này. Bài học năm 2007 vẫn còn đó khi tăng trưởng tín dụng lên đến 53%, tiền đổ ào ào vào các lĩnh vực đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro như bất động sản, chứng khoán...”.

Thực tế, dấu hiệu tái lạm phát đã bắt đầu xuất hiện do kinh tế thế giới hiện đang hồi phục, mặt bằng giá cả như giá dầu thô bắt đầu tăng trong khi nền kinh tế Việt Nam nhập khẩu tương đương 95% GDP. Điều đó đồng nghĩa các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam cũng tăng giá, tăng lạm phát. Trong khi đó, gói hỗ trợ lãi suất chưa hết đã xuất hiện dấu hiệu thiếu thanh khoản tại một số ngân hàng thương mại khi liên tục đưa ra các chiêu thưởng để lách trần lãi suất huy động 10,5%.

Chưa thấy những động thái quyết liệt kiểm soát dòng vốn kích cầu 2009, chưa thấy việc uốn nắn gắt gao việc đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn kinh tế nhà nước, chưa đủ công cụ kiểm soát việc đầu cơ… thì siết chặt tín dụng khác nào bắt cả nước uống thuốc?

PHAN MAI