Giao lưu trực tuyến về quyền con người
(PLO)- Thay vì chỉ ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự và kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện trong quyền công dân thì Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14).

Vì sao có sự sửa đổi, bổ sung như thế? Quyền con người gồm có những quyền gì? Quyền này khác gì với quyền công dân? Cả hai quyền chỉ bị hạn chế trong trường hợp nào? Nhà nướcxã hộitrách nhiệm gì trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người?...

Tất cả thắc mắc trên sẽ được các chuyên gia tư vấn giải đáp trong buổi giao lưu trực tuyến.

Thời gian: 9 giờ sáng thứ Bảy 28-11-2015.

Địa điểm: Báo Pháp Luật TP.HCM, 34 Hoàng Việt, quận Tân Bình, TP.HCM.

Khách mời: - Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM.

                - Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn Luật sư TP.HCM

Mời bạn đọc đặt câu hỏi tại đây.

Giao lưu trực tuyến về quyền con người - ảnh 1

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM, luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn Luật sư TP.HCM, là hai khách mời sẽ tham gia trả lời câu hỏi của bạn đọc. Ảnh: Huyền Vi

Nội dung buổi giao lưu trực tuyến

Cảm ơn ông Trần Văn Bảy đã giúp tôi giải tỏa thắc mắc về từ "mọi người" và "công dân" trong hiến pháp. Nhân đây cho tôi hỏi thêm, tôi thấy trong các điều luật hiến định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, có điều ghi "theo quy định của pháp luật", có điều ghi "theo quy định của luật". Hai cụm này có giống nhau hay không ạ

Anh Khoa (Vũng Tàu)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Hai cụm từ này thống nhất nhưng không đồng nhất. Theo đó, cụm từ "Theo quy định Pháp luật" (bao gồm tất cả các văn bản quy phạm Pháp luật của Trung ương và địa phương) rộng hơn cụm từ "Theo quy định của luật" (Chỉ bao gồm các đạo luật do Quốc hội ban hành). Việc Hiến pháp 2013 sử dụng cụm từ "Theo quy định của luật" là nhằm để bảo vệ quyền con người, quyền công dân chặt chẽ hơn, nhất là trong trường hợp hạn chế quyền con người, quyền công dân.

Buổi giao lưu trực tuyến về quyền con người đến đây là kết thúc. Bạn đọc quan tâm có thể đặt thêm câu hỏi bên dưới. Chúng tôi sẽ trả lời trong thời gian sớm nhất.

hiến pháp 2013 có quy định mọi người có quyền tự do kinh doanh. vậy có phải hiểu là tôi được phép kinh doanh những gì mình muốn? 

lê Thị tuyết,buôn bán

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định: Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà Pháp luật không cấm.

Theo đó, Pháp luật sẽ minh thị rõ những ngành nghề cấm kinh doanh. Ngoài những ngành nghề bị cấm kinh doanh thì mọi người có quyền tự do kinh doanh.

Theo luật sư thì Điều 63 Hiến pháp 1992 quy định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ… còn Hiến pháp 2013 thì chỉ quy định “nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Điều này được hiểu như thế nào về giới, có phải mở rộng ra cho cả nam và nữa luôn không không? 

Nguyễn Thị Thủy (Đồng Nai)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Điều 63 Hiến pháp 1992 quy định “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” được sửa đổi thành “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.

Luật Bình đẳng giới định nghĩa: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”; do đó, quy định như Hiến pháp 2013 là đầy đủ, chính xác hơn vì trên thực tế không chỉ có phân biệt đối xử với phụ nữ mà còn có thể có phân biệt đối xử với nam giới; ngoài ra, không chỉ là phân biệt đối xử về giới tính mà còn phân biệt đối xử về vị trí, vai trò của nam, nữ trong các mối quan hệ xã hội.


 Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM.

Điều 16 Hiến pháp quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Có phải mọi người phạm tội (người dân và cán bộ) điều được xử lý theo đúng pháp luật không được thiên vị?

Phạm Tuấn Khanh (Trần Khánh Dư, quận 1, TP.HCM)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Đúng. Bởi vì từ “mọi người” trong câu “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”, được hiểu, đây là quyền con người, không phân biệt dân tộc, quốc tịch, giới tính, tôn giáo, tình trạng tài sản, địa vị xã hội…


Trước đây (Điều 72) Hiến pháp 1992 quy định quyền của công dân trong lĩnh vực tố tụng gồm có suy đoán vô tội, được bồi thường vật chất và phục hồi danh dự (xin lỗi) cho người bị oan sai trong tố tụng. Đồng thời cũng quy định là xử lý nghiêm người làm trái pháp luật trong khi hoạt động tố tụng gây thiệt hại cho người khác. Thực tế vẫn còn người bị oan sai, chậm xét xử …và khó đòi bồi thường. Vậy thì Hiến pháp 2013, có thay đổi bổ sung gì không để đảm bảo rằng khi xét xử phải đúng người, đúng tội?

Nguyen Cong (kinh doanh tự do, Bình Dương)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Điều 31 Hiến pháp quy định: “1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai. 

3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.

4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. 

5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”.

Về cơ bản, Hiến pháp 2013 giữ nguyên quy định về quyền suy đoán vô tội, tuy nhiên, bổ sung nội dung người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai; Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm;...

Đối với hành vi gây ra oan sai, chậm xét xử, bức cung, nhục hình… là hành vi của từng cán bộ, con người cụ thể, trái quy định Hiến pháp, pháp luật và phải bị điều tra, xử lý nghiêm minh.


Quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ. Việc này được hiểu ra sao thưa luật sư? 

Thuy Hường

Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM trả lời:

Theo Điều 631 Quyền thừa kế của cá nhân (Bộ luật Dân sự năm 2005):

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Theo Khoản 2, Điều 32 Hiến pháp năm 2013:

Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.


 Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM

Ở Điều 69  Hiến pháp 1992 chỉ quy định công dân có quyền được thông tin. Hiểu là người dân ở thế bị động tức là được biết. Còn hiến pháp 2013 ở Điều 25 thay chữ được bằng chữ “tiếp cận”. Vậy có thể hiểu là dân có quyền được chủ động biết thông tin về hoạt động tư pháp và bảo vệ quyền hợp pháp của mình?

Trần Tấn Quân (huyện Nhà Bè, TP.HCM)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Trong khi Hiến pháp 1992 chỉ quy định “công dân có quyền được thông tin” (Điều 69), thì Hiến pháp 2013, Điều 25, thay chữ “được” bằng cụm từ “tiếp cận”. Nhờ  quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin, cả về các quyền thực định cũng như về hoạt động tư pháp, để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật.
Việc sửa đổi công dân có quyền được thông tin thành công dân có quyền tiếp cận thông tin cho thấy có sự thay đổi về cách hiểu, nội hàm của quyền tiếp cận thông tin.

 

Hiện nay, Quốc hội đang xem xét cho ý kiến Dự án Luật Tiếp cận thông tin, dự thảo có đưa ra định nghĩa “tiếp cận thông tin”.

Nếu quan tâm, độc giả có thể tìm hiểu, góp ý cho Dự án Luật Tiếp cận thông tin đăng tải trên trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.


 Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM.

Theo Điều 20 HP 2013 quy định "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm". Tuy nhiên trên thực tế thì có rất nhiều vụ nghi can bị tạm giam, tạm giữ đã bị các cán bộ công an dùng nhục hình gây hậu quả nghiêm trọng. Ông có thể nói gì về tình trạng này? 

Nguyễn Khang (nhân viên văn phòng), 40 tuổi

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Hiến pháp năm 2013 đã minh thị rõ về quyền bất khả xâm phạm. Nhà nước ta tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người và quyền công dân. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn hiện tượng như bạn đọc phản ánh. Đó là những hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật cần phải được xử lý nghiêm minh.

Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình. Xin luật sư cho biết đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình được hiểu như thế nào theo pháp luật hiện hành? 

Lê Hạnh Lâm (Quận 1, TP.HCM)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Điều 21 Hiến pháp quy định: 1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn. 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.

Điều 37, 38 Bộ luật Dân sự cũng quy định: Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”; “Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.


 Toàn cảnh buổi giao lưu trực tuyến.

Hiến pháp 2013 có quy định việc bắt, giam, giữ người do luật định. Hiểu sao chữ luật định này thưa luật sư? Ví dụ như trước khi bắt giam thì họ có gửi giấy tờ gì không? 

Phạm Ánh tuyết

Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM trả lời:

Theo Khoản 2 Điều 20 của Hiến pháp 2013 quy định:

Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định.

Hiến pháp mới này có thêm quyền nào mới hay không? Nhất là tình hình an ninh trật tự và ô nhiễm môi trường như hiện nay có được ghi nhận trong hiến pháp hay không? 

Lê Văn Nhân (buôn bán) bến Bình Đông, quận 8, TP.HCM

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

- Hiến pháp năm 2013 bổ sung nhiều quyền mới là thành tựu của gần 30 năm đổi mới, thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân như: Quyền sống (Điều 19); Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác (Điều 20); Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21); Quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); Quyền kết hôn, ly hôn (Điều 36); Quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); Quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); Quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43).

- Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung nhiều điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như: Mở rộng chủ thể có quyền bình đẳng, không bị phân biệt, đối xử về mọi mặt thành quyền của mọi người; nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác thành nghĩa vụ của mọi người (Điều 15; Điều 16); khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trước công dân của mình (Điều 17); khẳng định mọi người đều được hưởng quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 20); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình (Khoản 1, Điều 21); bóc tách riêng quyền có nơi ở; ghi nhận quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 22); Quyền tự do đi lại và cư trú, ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về (Điều 23); Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo tôn giáo (Điều 24); Quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 30); sửa đổi về chủ thể trong nghĩa vụ nộp thuế, theo đó mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định (chứ không chỉ là công dân Việt Nam) (Điều 47).

Hiến pháp năm 2013 cũng đã dành một điều riêng (Điều 43) để quy định về quyền con người được sống trong môi trường trong lành và mọi người (bao gồm cả công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch đến làm ăn, sinh sống ở Việt Nam) đều có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.

Theo Hiến pháp 2013 thì công dân có nghĩa vụ gì với đất nước? Tất nhiên, song song với việc có nghĩa vụ là phải có quyền (cụ thể là bao nhiêu quyền và bao nhiêu nghĩa vụ). Trong đó đi nghĩa vụ quân sự được xem là quyền hay nghĩa vụ? 

Cuong Nam (kinh doanh tự do, Bà Rịa- Vũng tàu)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

- Quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, gồm 25 Điều, từ Điều 19 đến Điều 43.

+ Các quyền chính trị, dân sự được quy định tại: Điều 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 43

+ Các quyền về kinh tế được quy định tại: Điều 32, 33.

+ Các quyền về xã hội được quy định tại: Điều 34, 35, 36, 37, 38.

+ Các quyền về văn hóa được quy định tại: Điều 39, 40, 41, 42

- Nghĩa vụ của công dân Việt Nam gồm 06 điều:

+ Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất (Điều 44)

+ Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân (Điều 45)

+ Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46)

+ Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định (Điều 47)

+ Công dân có nghĩa vụ học tập (Điều 39)

+ Công dân có nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43)

Quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp 2013 có gì khác so với Hiến pháp 1992? 

Hạnh Nguyễn (sinh viên, TP.HCM)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

- Chương quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân trong HIến pháp 2013 (trước đây là chương quyền và nghĩa vụ của công dân) được lên vị trí chương II, đặt trang trọng sau chương I của Hiến pháp năm 2013.

- Tách bạch và phân định rõ quyền con người với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp năm 2013 đã sử dụng từ “mọi người” và từ “không ai” khi thể hiện quyền con người và dùng từ “công dân” khi quy định về quyền công dân.

- Đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân quy định tại Điều 3 Hiến pháp năm 2013.

- Thể hiện nhận thức và tư duy mới trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013; bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên quy định tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 .

+ Khẳng định và quy định rõ hơn các nguyên tắc về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo hướng quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân quy định tại Điều 15 Hiến pháp năm 2013.

- Bổ sung một số quyền mới là thành tựu của đổi mới của nước ta, thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân.

Tôi muốn biết theo Hiến Pháp 2013 thì bao nhiêu tuổi có quyền biểu quyết khi nhà nước trưng cầu ý dân về luật hay về vấn đề quan trọng nào đó? 

hung cuong

Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM trả lời:

Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Điều 4. Nguyên tắc trưng cầu ý dân:

1. Bảo đảm để Nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội.

2. Thực hiện nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín khi trưng cầu ý dân.

3. Việc trưng cầu ý dân phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định.

Điều 5: Người có quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên tính đến ngày trưng cầu ý dân có quyền bỏ phiếu để biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 25 của Luật này.


 Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn Luật sư TP.HCM.

Được biết, khi cần thiết thì Nhà nước có quyền trưng mua, trưng dụng tài sản của người dân và bồi thường theo giá thị trường. Cho tôi hỏi, đối với đất đai thì việc trưng dụng của Nhà nước sẽ được thực hiện như thế nào? 

hoangvannghia…@gmail.com

Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM trả lời:

Theo khoản 3 Điều 32 Hiến pháp 2013 thì trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường. Đối với việc trưng dụng đất thì Điều 72 Luật Đất đai 2013 quy định rõ: “Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.

Quyết định trưng dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản; trường hợp khẩn cấp không thể ra quyết định bằng văn bản thì người có thẩm quyền được quyết định trưng dụng đất bằng lời nói nhưng phải viết giấy xác nhận việc quyết định trưng dụng đất ngay tại thời điểm trưng dụng. Quyết định trưng dụng đất có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm ban hành.

Chậm nhất là 48 giờ, kể từ thời điểm quyết định trưng dụng đất bằng lời nói, cơ quan của người đã quyết định trưng dụng đất bằng lời nói có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản việc trưng dụng đất và gửi cho người có đất trưng dụng.

Cũng cần lưu ý thêm, chỉ những người có thẩm quyền sau đây mới có thẩm quyền quyết định trưng dụng đất hoặc quyết định gia hạn trưng dụng đất. Gồm có: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Người có thẩm quyền trưng dụng đất không được phân cấp thẩm quyền cho người khác.

Thời hạn trưng dụng đất là không quá 30 ngày kể từ khi quyết định trưng dụng có hiệu lực thi hành. Trường hợp trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp thì thời hạn trưng dụng được tính từ ngày ra quyết định đến không quá 30 ngày kể từ ngày bãi bỏ tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Trường hợp hết thời hạn trưng dụng đất mà mục đích của việc trưng dụng chưa hoàn thành thì được gia hạn nhưng không quá 30 ngày. Quyết định gia hạn trưng dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản và gửi cho người có đất trưng dụng trước khi kết thúc thời hạn trưng dụng.

Người có thẩm quyền trưng dụng đất có trách nhiệm giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng đất trưng dụng đúng mục đích, hiệu quả; hoàn trả đất khi hết thời hạn trưng dụng; bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra.

Trong việc bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra,  trường hợp đất trưng dụng bị hủy hoại thì việc bồi thường được thực hiện bằng tiền theo giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường tại thời điểm thanh toán.

Mọi người có quyền về bí mật thư tín, điện thoại, mail. Như vậy có thể hiểu là ngoài cá nhân người sử dụng thì không ai được quyền kiểm soát, xem quản lý bí mật này?

Pham Tien Thong

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Khoản 2 Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định:

"Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác."

Như vậy, Hiến pháp đã khẳng định các quyền nêu trên như là quyền cơ bản của con người. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 15 Hiến pháp 2013 cũng quy định "Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác" và tại khoản 2 Điều 14 quy định "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật..." 

Theo đó, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hôi, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng thì một số quyền con người, quyền công dân có thể bị hạn chế và việc hạn chế đó phải được ghi rõ trong các đạo luật.

Tôi dự định kết hôn với một người nước ngoài và anh ấy sẽ đến Việt Nam cư trú để cùng chung sống với tôi. So với những người Việt Nam như tôi thì người nước ngoài cư trú ở Việt Nam có quyền và nghĩa vụ gì? 

maithaotrang… yahoo.com.vn

Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM trả lời:

Quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam được Hiến pháp năm 2013 quy định nhu sau:

Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp và pháp luật 
Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam.

Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chú nghĩa xã hội dân chủ và hòa bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem cho cư trú.

Tôi thắc mắc quyền con người theo hiến pháp 2013 gồm những quyền gì? Cụ thể ra sao? 

Phạm Nguyên (hưu trí quận 7)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Hiến pháp năm 2013 sử dụng từ “mọi người” và từ “không ai” khi thể hiện quyền con người và dùng từ “công dân” khi quy định về quyền công dân. Một số quyền con người cụ thể như:

Các quyền con người theo Hiến pháp năm 2013 gồm: quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử về mọi mặt (Điều 16); quyền sống (Điều 19); quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác (Điều 20); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình; quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín (Điều 21); quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 22); quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Điều 24); quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 30); người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai… (Điều 31); quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác (Điều 32); quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm (Điều 33); quyền kết hôn, ly hôn (Điều 36); quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế (Điều 38); quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43)….

Theo Hiến pháp 2013, công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. Nơi ở hợp pháp này được hiểu ra sao, thưa luật sư Trần Công Ly Tao?

Nguyễn Văn Bình , xe ôm, quận Thủ Đức, Tp.HCM

Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM trả lời:

Theo khoản 1 Điều 22 Hiến pháp 2013 thì công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. Về nơi ở hợp pháp thì Điều 12 Luật Cư trú có quy định:

1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.

Tôi quan tâm nhiều đến các nghĩa vụ mà tôi và gia đỉnh phải thực hiện. Xin hỏi: So với Hiến pháp 1992 thì Hiến pháp 2013 có điều chỉnh hay bổ sung gì về nghĩa vụ của công dân hay không? 

Trần Thu Hiền (huyện Cần Giờ, TP.HCM)

Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM trả lời:

Hiến pháp 2013 tiếp tục kế thừa các nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 như nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44), nghĩa vụ quân sự (Điều 45), nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46). 

Riêng đối với nghĩa vụ nộp thuế thì Hiến pháp 2013 có sửa đổi về chủ thể, đó là mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định (Điều 47) mà không chỉ công dân có nghĩa vụ nộp thuế như quy định của Hiến pháp năm 1992.

Theo hiến pháp 2013 thì sắp tới học sinh có được hưởng chế độ giáo dục không tính học phí hay không? Vì học phí ngày càng tăng cũng là gánh nặng cho gia đình? 

Nguyễn Thị Bích, nội trợ ở quận Tân Phú, TP.HCM

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Điều 61 Hiến pháp 2013 quy định:

“1. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý.

3. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề”.

Hiện nay, Nhà nước chưa có điều kiện để miễn học phí cho tất cả cấp học, ngành học, tuy nhiên, Nhà nước có chính sách ưu tiên, tạo điều kiện phát triển giáo dục tại những vùng và những đối tượng khó khăn.

Quyền con người và quyền công dân trong Hiến pháp 2013 có khác gì nhau không hay chỉ là một? 

Pham Tan Hung (Bình Chánh, TP.HCM)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người (bao gồm các công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch) được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền công dân có nội hàm hẹp hơn so với quyền con người, do quyền công dân là những quyền con người được nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình.


Theo Hiến pháp thì công dân có nhiều quyền thì đồng thời phải có nhiều nghĩa vụ. Xin hỏi, đó là các nghĩa vụ cụ thể gì? 

Tiên Tài (quận 2, TP.HCM)

Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM trả lời:

Theo Điều 15 của Hiến pháp năm 2013 thì quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. 

Về nghĩa vụ thì có nghĩa vụ học tập; nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc; nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt cộng đồng; nghĩa vụ nộp thuế theo luật định; thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân; nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh.

Toàn cảnh buổi giao lưu trực tuyến Quyền con người do báo Pháp Luật TP.HCM. Ảnh: Huyền Vi

Hiến Pháp 2013 có quy định lại việc bầu cử, bãi nhiệm, miễm nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và Quốc hội hay giữ nguyên như cũ? 

Nguyễn Thị Hường (Bình Dương)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Về cơ bản giữ nguyên nội dung quy định về bầu cử, bãi nhiệm, miễn nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Bổ sung quy định về việc Quốc hội thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia để tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Việc Hiến định Hội đồng bầu cử quốc gia nhằm thể chế hóa yêu cầu phát huy dân chủ, bảo đảm tính khách quan trong chỉ đạo tổ chức cầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

Theo tìm hiểu của tôi thì Hiến pháp 2013 quy định khá chi tiết về việc xử lý trách nhiệm hình sự một cá nhân. Đề nghị luật sư nói rõ hơn về nội dung này.

hatranthu… yahoo.com

Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM trả lời:

Trước đây, Ðiều 72 Hiến pháp 1992 quy định thế này:Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”.

Nay Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định rõ hơn như sau:  

“1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai. 

3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.

4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. 

5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”.

Tất cả các quy định này đều đang được quy định chi tiết tại các bộ luật và luật hiện hành như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

 Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn luật sư TP.HCM. Ảnh: Huyền Vi

Tôi thấy hiến pháp 2013 có quyền sống tại Điều 19 mà Hiến Pháp cũ không có. Vậy thưa ông, hiểu quyền này thế nào? 

Phạm Văn Cẩn (quận Bình Tân, TP.HCM, cán bộ hưu trí)

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Điều 19 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật. Đây là quy định mới được bổ sung vào Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với quy định về quyền sống trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị mà Việt Nam là thành viên.

Quyền sống đã được ghi nhận trong nhiều bộ luật (BLHS, BLDS) của nước ta, hiện nay, được nâng lên thành quyền Hiến định, thể hiện sự tôn trọng quyền thiêng liêng nhất của con người là quyền sống, góp phần bảo đảm thực thi và nâng cao uy tín của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.

Theo tôi được biết thì quyền con người có quyền tự do ngôn luận, cụ thể quyền tự do ngôn luận của các nước văn minh là mọi người được nói lên những gì mình có căn cứ và bằng chứng, nếu tung tin bịa đặt thì chịu trách nhiệm cho phát ngôn không có căn cứ của mình. Ông có thể nói thêm về điều này không? 

Binh Minh, 30, ho chi minh, kinh doanh

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Điều 25 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định".

 Như vậy, ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật, được bảo đảm thực hiện trong thực tế.

Tuy nhiên, khoản 4 Điều 15 Hiến pháp cũng quy định: “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Ví dụ: lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác thì tùy tính chất, mức độ, có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự (tội vu khống).


Buổi giao lưu trực tuyến 'Quyền con người'

Kính gửi ông Trần Văn Bảy: Xin hỏi ông, tôi đọc trong hiến pháp 2013 phần quy định về quyền con người, tôi thấy trong cùng một điều luật lúc thì dùng từ "mọi người", lúc lại dùng từ "công dân". Tại sao lại như vậy? Ví dụ điều Điều 22 quy định: “1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. 2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý”. 

Anh Khoa (Vũng Tàu), Sinh viên luật

Ông Trần Văn Bảy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM trả lời:

Hiến pháp năm 2013 sử dụng từ “mọi người” và từ “không ai” khi thể hiện quyền con người và dùng từ “công dân” khi quy định về quyền công dân.

Quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền công dân có nội hàm hẹp hơn so với quyền con người, do quyền công dân chỉ là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho riêng công dân của mình.

Việc tách bạch và phân định rõ quyền con người với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như trên nhằm khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp; thể hiện quan điểm, nhận thức và quyết tâm của Việt Nam trong thực hiện cam kết tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người .


 Ông Trần Văn Bảy, Phó giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM. Ảnh: Huyền Vi

Gửi câu hỏi ở đây