Những bộn bề trong cuộc mưu sinh với biết bao lo toan, phiền muộn, nhiễu nhương từ những tệ nạn xã hội, từ sự thoái hóa biến chất của một số người có quyền lực khiến cho nét sáng đẹp của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam trong tinh thần khoan dung, hòa hợp phần nào bị che lấp đi.

Và rồi vào những ngày này, những nét sáng đẹp ấy nổi bật lên trong ý nghĩa của tinh thần khoan dung tôn giáo trong đời sống Việt Nam. Cần hiểu đúng nội hàm của khái niệm khoan dung là biểu hiện của sự độ lượng, cảm thông giữa người và người trong những mối quan hệ đa dạng, nhiều chiều và phức tạp, thậm chí đôi lúc rơi vào những trạng huống đầy kịch tính cần phải được chia sẻ và cảm thông. Tinh thần khoan dung ấy thấm đẫm triết lý về chữ “hòa”, nét đặc trưng cho tính cách phương Đông trong lối sống và văn hóa Việt Nam. “Hòa” trong mối quan hệ giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, hòa trong chính mình, ở đấy biểu hiện rất sinh động chủ nghĩa nhân văn Việt Nam.

Trong bối cảnh của những xung đột tôn giáo và sắc tộc ở trên nhiều lãnh thổ, quốc gia, đang có sức tàn phá khủng khiếp, ngẫm nghĩ kỹ càng thấy rõ ý nghĩa đặc biệt của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam trong tinh thần khoan dung, hòa hợp, không có sự kỳ thị tôn giáo là một truyền thống vô giá mà chúng ta phải trân trọng giữ gìn và phát huy.

Xin hãy ngắm nhìn cảnh sắc làng quê ta, bên cạnh ngôi chùa làng quen thuộc ẩn mình kín đáo dưới vòm cây cổ thụ, luôn bắt gặp nét dáng của tháp nhà thờ ngoi lên giữa mảng trời xanh. Trong sự tĩnh lặng của ngôi làng quê ấy, có khi chợt rung lên âm thanh hòa quyện tiếng chuông chùa làng và tiếng chuông nhà thờ. Ở đấy, chung sống hòa hợp và gắn bó giữa những con người với những tín ngưỡng tôn giáo không giống nhau nhưng họ là hàng xóm, láng giềng thân quen, tối lửa tắt đèn có nhau. Đâu chỉ ở làng quê, nơi đô thị sầm uất, sự gần gũi, thân quen của những cá nhân hoặc cộng đồng có tôn giáo tín ngưỡng khác nhau vẫn là nét phổ biến trong xã hội ta.

Tôn giáo, tín ngưỡng là một hiện tượng người, một biểu thị nhân bản, một thực tế xã hội rộng lớn, kết tinh chẳng những tâm linh và tình cảm, mà cả nhận thức lý trí của nhiều người. Tín ngưỡng hoặc không tín ngưỡng là một quyền cơ bản của con người cần được thể chế hóa và được thực sự tôn trọng. Hiểu thật đúng thì tôn giáo sẽ là một sức mạnh xây dựng và một động lực của phát triển. “Khoa học có thể hoạt động không cần tới tâm linh. Tâm linh có thể tồn tại không cần tới khoa học. Nhưng con người để trở nên hoàn thiện thì cần phải có cả hai”. Nếu con người là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững thì phải tôn trọng đời sống tâm linh của họ.

Thực tế đã cho thấy chính sách khoan dung tôn giáo là một nhân tố quan trọng tạo nên sự đồng thuận xã hội. Nếu làm ngược lại, cái giá phải trả sẽ là sự phân rã và hỗn loạn rất khó hàn gắn.

TƯƠNG LAI