(PL)- TAND Tối cao vừa ban hành công văn hướng dẫn về việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ trong nội địa.

Công văn cho biết theo Nghị định 59/2006 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 43/2009) thì các loại pháo nổ thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh. Nhưng theo Luật Đầu tư 2014 thì kinh doanh các loại pháo thuộc danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (Phụ lục 4). Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư 2014 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2017) bổ sung quy định: Kinh doanh pháo nổ là ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh.

Vì thế, để áp dụng đúng và thống nhất để xử lý các hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ trong nội địa, TAND Tối cao yêu cầu chánh án TAND và tòa án quân sự các cấp lưu ý: Kể từ ngày 1-7-2015 (Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực) đến ngày 1-1-2017 (Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực), không xác định pháo nổ là hàng cấm và không xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ trong nội địa theo quy định tại Điều 155 BLHS 1999.

Thứ nhất, với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ ngày 1-7-2015 mà vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì tòa phải mở phiên tòa và căn cứ Điều 25 BLHS 1999 để miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) cho người phạm tội. Khi miễn TNHS, tòa phải ghi rõ trong bản án lý do là có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự. Người được miễn TNHS không có quyền yêu cầu bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật mà người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án (THA) thì được miễn toàn bộ hình phạt. Còn đang THA hoặc tạm đình chỉ THA thì được miễn chấp hành hình phạt còn lại. Khi miễn tòa phải ghi rõ lý do là do có sự thay đổi chính sách, pháp luật…

Thứ hai, với hành vi xảy ra từ 0 giờ ngày 1-7-2015 đến 0 giờ ngày 1-1-2017, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì tòa phải mở phiên tòa và căn cứ quy định của BLHS 1999 để tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án. Nếu đã kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật thì chánh án cấp tòa đã xét xử sơ thẩm rà soát, báo cáo ngay với người có thẩm quyền để kháng nghị giám đốc thẩm bản án theo quy định.

Thứ ba, với hành vi được thực hiện kể từ 0 giờ ngày 1-7-2017 thì tiếp tục thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn 06-2017 của TAND Tối cao.

Thứ tư, trong thời hạn ba ngày kể từ ngày ra bản án, quyết định về việc miễn TNHS, tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án, tòa phải chuyển bản án hoặc quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

ĐẠI HƯNG​