Thương mi lắm, thuyền độc mộc!
(PL)- Sự xuất hiện của plung hợp lẽ đất trời. Một thực thể, vật dụng bản nguyên; một sản phẩm của xã hội nguyên bản, vô nhiễm hoàn toàn với “công nghiệp”, “kỹ nghệ” và phá hủy.

Người sơn nguyên coi sang dlông (căn nhà sàn dài) nơi mặt đất là thuộc về giống đực - cực dương, ngược với plung (con thuyền độc mộc) dính vào mặt nước sông hồ tự nhiên miền thượng này là giống cái - cực âm. Giống như rẫy nương và núi non là hiển thị tính nam (đực) so với sông hồ và thủy vật thuộc tính nữ (cái). Với họ, đực-cái, dương-âm là sự sống, sinh sôi, sinh hoạt, tất yếu, gần gũi như máu chảy trong người và nước chảy dưới đất.

Giao hòa âm-dương

Mới hôm nào, cứ chỗ nào còn nhìn thấy plung là chỗ đấy êm ả. Chỗ nào còn nhìn thấy plung là nơi đó còn có màu xanh nguyên bản, rừng chung sống với người và ngược lại. Chỗ nào người còn cưỡi plung lướt đi trên mặt nước là con người chỗ đấy còn mộc mạc, sống bằng tình thay cho lý trí, trao gửi thay cho toan tính, cố tham. Trên thế gian này, trong mối quan hệ với thiên nhiên hẳn khó có hình ảnh nào thể hiện sức sống gần gũi, sâu nặng và diễm lệ như hình ảnh con người với con thuyền độc mộc trôi trong không gian thật của cuộc sống.

Đã có một thời plung luôn hiện diện ở những khúc sông trên nguồn Dà Dơng, Sê San, Pôkô, Dak Bla, rồi nơi những hồ nước mà người S’tiêng sinh sống quanh đó. Bá tánh người bản địa hay đưa ta đi lại trên những chiếc plung, giống như khi ở phố người ta cho ta quá giang xe máy vậy. Sông hồ tách biệt, núi non cách trở thì dùng gì để chuyên chở người ngợm, thổ sản nếu không là plung, nhất là trong mùa mưa. Nên mới có câu thành ngữ,“Nhà (gia đình) thì phải có cái plung”.

Những mùa mưa, khô ấy, ngồi trên plung, ta cảm nhận đầy ắp sự thanh khiết mà không thấy chút tội lỗi nào với thiên nhiên. Có lẽ vì cái thân cây gỗ nổi trên nước đã cộng hưởng được mọi nguyên lý vật chất ở chiều khí động học lẫn những điều sâu kín của tự nhiên, thủy-mộc giao hòa. Nó lướt đi nhanh, nhưng đằm lắm, trôi nổi tỉnh bơ, cứ len theo con sóng, nương vào sóng, con nước, khó lật úp và cũng không chút đối kháng nào với sông sóng, gió nắng, mưa bão.

Về tên gọi, các sắc dân nhóm Môn-Khmer gọi nó là plung, còn các sắc dân nhóm Malaiyo-Polynesién gọi là m’ran. Đơn giản nó chỉ là nguyên thân cây đục lõm xuống để rỗng ra, nổi được trên mặt nước và chở được người, vật đi đó đây. Rừng núi đầy ra đấy, sông hồ, suối bàu nằm ngay bên rừng, vớ lấy một cái cây đục cho tử tế vào là có một vật dụng tuyệt vời để đi lại, sinh hoạt.

Độc mộc nghĩa là không lắp ghép. Thế thôi. Thì hải thuyền, tàu bè nào đóng bằng sắt thép, nhôm, composite hay chất liệu tổng hợp gì đi nữa cũng chỉ nhằm một mục đích chung là vận tải, phục vụ con người. Tùy mức độ, nhu cầu, không gian khác nhau mà vật thả xuống nước có nhiệm vụ nổi trôi di chuyển đó khác nhau về thiết kế, hình thù và cách sử dụng thôi. Nó phù hợp với không gian sống, không gian văn hóa, không gian tâm hồn người sơn nguyên, mà đời xuôi ruổi cho ta được dự phần. Trong cái không gian đó, mọi thứ gắn chặt vào thảo mộc và xa cách kỹ nghệ, súng - vi trùng - thép, lẫn khai thác, bóc lột, chiếm hữu thiên nhiên.

Thương mi lắm, thuyền độc mộc! - ảnh 1

Thương mi lắm, thuyền độc mộc! - ảnh 2

Mặt trời vừa nhú lên ngày mới, thanh thiếu niên M’nông đã lên plung đi làm rẫy.

Dhi grier trong tiếng chim rừng ẩn danh

Tây Nguyên, trong các gia đình sắc dân bản địa, người phụ nữ gánh vác, làm đủ mọi thứ, ngoại trừ plung. Đây đúng là thứ duy nhất mà đàn bà không phải đụng tay vào. Toàn bộ quá trình ra đời của plung đều do một tay đàn ông. Họ lên rừng tìm chọn cho được cây dhi grier (cây sao xanh, tiếng phổ thông), chỉ duy nhất loại cây rừng này vì chúng chịu được nắng và nước, khó mục và cũng không bị nứt nẻ trong môi trường ẩm nóng. Họ cũng chỉ chặt đúng một cây mang về, không được chặt quá.

Khi đi tìm cây dhi grier trong rừng, nếu phía trước nghe có tiếng chim kêu là đi tiếp, tốt. Nhưng nếu tiếng kêu của chim ở đằng sau lưng thì không tốt, phải quay về ngay. Có lẽ khi gia chủ tính chuyện làm một plung đã được núi rừng nghe thấy, ứng cho biết là “được” hay “chưa” thông qua sứ giả là loài chim rừng bất kỳ nào đó. Trước khi đốn cây dhi grier phải làm lễ cúng xin rừng (Yàng) cho phép hạ lấy.

Mười hai mét, mười mét, tám mét, hay sáu mét, bốn mét chiều dài cho một plung là phụ thuộc ở gia chủ cho nhu cầu chở người, chở thổ sản, hay đi chăn bò, chở con đi học, đánh bắt cá. Nhưng lòng của con plung rộng bốn mươi, sáu mươi, hay tám mươi phân là phụ thuộc vào bề ngang cây gỗ kiếm được. Nghĩ ra nó là một sự thông minh, tinh tế đến tối giản, cực khoa học. Sự xuất hiện của nó hợp lẽ đất trời. Một thực thể, một sản phẩm của xã hội nguyên bản, vô nhiễm hoàn toàn với “công nghiệp”, “kỹ nghệ” và phá hủy.

Với plung, người Tây Nguyên đục cây gỗ xong sẽ tri ân trời đất (cúng) để Yàng chứng kiến. Khi đưa thuyền chạm xuống mặt nước, cúng tiếp để Yàng thấy cây đã hóa kiếp thành thuyền - từ đây cuộc đời trên đất đã sang cuộc đời dưới nước. Chưa nói trước đó, khi hạ và đục lấy cây dhi grier phải để một quả trứng gà lên đấy, nếu trứng không lăn thì thuyền ra đời mới tốt, sẽ không lật.

Dù phụ nữ không nhúng tay vào nhưng khi plung hoàn thành thì việc sử dụng nó được trao ngay cho phụ nữ và người phụ nữ cũng là chủ thể sở hữu nó. Mẫu hệ mà! Vì vậy nên thường thấy nhất là hình ảnh người phụ nữ hằng ngày trên con thuyền độc mộc. Đàn ông nếu dùng đến chỉ là đi bắt cá, chở con đi chơi, chứ còn đưa thuyền đi bờ này sang bờ kia, lên rẫy, vào núi, vận chuyển hàng hóa, bán mua là trong tay người đàn bà tất - số phận họ như “dính” với chiếc thuyền độc mộc.

Thương mi lắm, thuyền độc mộc! - ảnh 3
Chiếc thuyền độc mộc bơi ngoài kia bỗng một ngày lạc lõng với những chiếc thuyền ghép đóng bằng gỗ bất kỳ.

Thương mi lắm, thuyền độc mộc! - ảnh 4

Hai người phụ nữ M’nông dù lớn tuổi vẫn đi lấy củi trên núi xa và chở về bằng thuyền độc mộc.

 Thương mi lắm, thuyền độc mộc! - ảnh 5

Tác giả Nguyễn Hàng Tình trên mũi thuyền độc mộc.

Thương mi lắm, thuyền độc mộc! - ảnh 6

Chiếc thuyền độc mộc Tây Nguyên được sưu tầm và trưng bày trong Bảo tàng tổng hợp Dak Lak ở thành phố tỉnh lỵ Buôn Ma Thuột.

Ký ức giữa thực tại

Rồi mới đó, độ hai lăm năm nay, những dà dơng, tơnau, croh, tơnau vó, kềng, nhrùh, sére, tô dà (tiếng K’ho, Mạ, M’nông, S’tiêng chỉ sông, suối, hồ, đầm, bàu nước, bến bờ, thác, ruộng đồng, nguồn nước)… không đâu còn thấy bóng hình của plung tung hoành nữa. Mi biến mất cứ như David Copperfield làm ảo thuật về cuộc đời mi. Nhưng ảo thuật là trò đánh lừa thị giác người xem trong phút chốc, giải trí cho vui, còn plung là cuộc sống thật của con người, một phần của cuộc đời này.

Giờ đây, những người S’tiêng ở sóc Bù Khiêu, Bù Run vùng Cát Tiên đã đi xuồng vỏ thép trên sông Đồng Nai rồi. Những người Ê Đê, Lào đã không dùng mi để chở ta trên sông Sérepôk nữa. Thì cũng như người Banahr ở Kon Tum cũng đâu cho ta qua sông Dak Bla bằng plung vào mùa khô năm nay như hai mươi ba năm trước.

Khi đi quanh mà không thấy thuyền độc mộc ở các bòn (làng) buôn vùng sâu vùng xa, ta chỉ còn biết tìm về nhìn phiên bản của nó trong Bảo tàng tổng hợp tỉnh Dak Lak. Bảo tàng này nhanh tay tậu được một plung từ không gian của các bòn người M’nông bên hồ Lăk cách tỉnh lỵ Buôn Ma Thuột gần năm chục cây số. Thì cũng như nàng H’Len Nie, lúc cố mở một quán cà phê đậm bản sắc truyền thống Ê Đê ở giữa TP Buôn Ma Thuột nhưng không tìm đâu ra nữa chiếc m’ran - tiếng Ê Đê chỉ thuyền độc mộc - của sắc dân Ê Đê mình. H’len bèn về vùng Lăk để mua một chiếc của sắc dân M’nông đưa lên. Mà làn sóng đi sưu tầm plung để bán buôn, chơi, trang trí nhà, vườn, quán xá giờ thì đang lan tràn khắp Tây Nguyên rồi, say sưa nhất là người Kinh ta.

Plung, hình như mi đã làm xong nhiệm vụ lịch sử của mi. Nhiệm vụ lịch sử ở chỗ mi chỉ có thể tồn tại khi con người nương tựa vào thiên nhiên để sống, hòa thuận với tự nhiên, dè sẻn với thiên nhiên, rón rén với thiên nhiên và công nghệ, máy móc dùng cho giao thông thủy chưa phát triển như bây giờ. Những con sông, giờ đây vì bị đoạn ra nhiều khúc để làm thủy điện, đành phải nói lời vĩnh biệt với người bạn sắt son đi từ ban sơ của nó là mi. Những vùng tơ nau vó (bàu nước hoang - nơi tụ muôn loài thủy sinh, và chỗ để các loài thú tìm về uống nước, lấy khoáng chất vi lượng) đã bị đẩy ra chơi vơi khi xung quanh không còn rừng thì mi cũng lạc loài, vô duyên, mà thực ra cũng chẳng loài nào ở đó nữa để mà có mi.

Mi thấy không, có tơ nau vó nào giờ không ngập bước chân người, kể cả trong rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia. Mi chỉ đi, cánh rừng nào là của Yàng, của chung cộng đồng, sử dụng và giữ gìn tự nhiên của những tổ người sống xung quanh nó như xa xưa? Thiết chế về của cải trong trời đất đã khác rồi. Giờ vùng đầm hồ nào xinh đẹp người ta cũng đều nhắm chọn để làm khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, lập dự án thì mi lấy lý lẽ gì để bơi trên đó. Các đơn vị xã, thôn mới hình thành ngay trong lòng các khu rừng cuối cùng và các xưởng cơ khí, gò hàn luôn đi cùng các làng nhập cư thì mi cũng hết cơ hội để tồn tại là phải thôi. Loài người đang “đi lên” chứ nào lại đi dọc hay đi ngang như mi.

Nhưng vẫn xin cảm ơn mi, plung. Mi nhắc nhớ con người về buổi còn gần gũi với thiên nhiên, xài đủ sống, không thu vén, dự trữ, đoạt cướp, tranh đua, gửi của cải lẫn con cái ở nước ngoài; nhà này đứng trên nhà kia, người này đứng trên người nọ, nhất là về sự khéo léo hòa thuận của con người trước trời đất và sự giới hạn của lòng tham. Mi là một thứ ký ức, bộ hồi ức về buổi ban đầu, buổi con người còn đơn sơ, tử tế, thuần khiết.

Còn chút này, “bảo tàng sống” Plung

Dọc theo dăm ba bến hồ, bến sông ở vùng Ayun Pa của người J’rai, vùng Kon Tum của người Banarh, vùng hạ lưu sông Sêrepôk ở Ea Súp, Buôn Đôn của người Ê Đê-Lào-M’Nông, ta đỏ mắt tìm kiếm mới thấy vật vờ đôi ba con plung/m’ran. Nhưng con nào cũng tàn tạ lắm rồi, năm - sáu - bảy mươi tuổi cả. Hình ảnh rực rỡ nhất của plung bây giờ chỉ còn có thể thấy ở vùng của người M’Nông Gar, quanh hồ Lăk, xứ Lăk. Nơi này người M’Nông Gar thuần sơn nguyên, bòn của họ còn dày đặc và họ sinh sống ngàn đời với nước (lăk là nước, ở đây có cả vị Yàng Lăk - thần nước cho xứ sở) với nghề trồng lúa nước và đánh bắt thủy sinh.

Hằng ngày những người phụ nữ ở bòn Jun, bòn Lê vẫn băng hồ bằng plung để đi rẫy ở núi bên xa kia. Và những người phụ nữ ở bòn M’Liêng, Triết, Trấp… vẫn ra chợ trấn huyện lỵ bằng plung. Vì hồ tự nhiên Lăk quá đẹp, bản sắc văn hóa M’Nông Gar còn quá đặc sắc nên khách du lịch tìm đến đây nhiều. Và nhiều nhà M’Nông Gar cũng biết lấy những con plung để chở khách đi chơi kiếm chút tiền.

Thương mi lắm, thuyền độc mộc! - ảnh 7
Chiếc thuyền độc mộc  gắn động cơ trên dòng  Mêkông ngày nay.  Ảnh: BST

Với tôi, Lăk đang là “bảo tàng sống” cuối cùng về thuyền độc mộc trên miền sơn nguyên Tây Nguyên, dù bà H’Duôi ở bòn Jun sát mép hồ nói rằng cũng hai mươi lăm năm rồi, không thấy có chiếc plung nào mới đưa xuống hồ cả. Số thuyền độ hai chục chiếc còn lại quanh đây là những chiếc ông cha để lại từ thế kỷ trước.

H’Ánh, cô gái trẻ hơn bà H’Duôi cả mấy chục tuổi, bên bến hồ ấy tâm tư với tôi là giờ có xe cày, xe máy nhưng cực chẳng đã cô mới phải dùng xe động cơ này và chỉ ở mùa khô - khi hệ thống sông-suối-hồ ở xứ Lăk co lại vì thủy điện đó đây trên lưu vực. Chứ với cô, mùa mưa vẫn thích dùng plung để sinh hoạt, đi lại. Trong lòng bà H’Duôi cũng như cô H’Ánh, plung mà làm du lịch là Plung đang “diễn”, đang “kỹ nghệ du lịch” chứ không phải nó đang sống cuộc đời sông hồ - rừng núi - nắng mưa - rẫy nương - thủy/lâm thổ sản - nước mắt - mồ hôi - buồn vui với bà con.

Lòng vòng quanh xứ sở của thuyền độc mộc Lăk này với ta, người đàn ông cũng hay suy tư về mi, ông Y Bhun ở bòn Lê chốt hạ dự báo: “Plung sẽ không bao giờ còn tồn tại nữa”. Ta nhớ ánh mắt già ngây (chứ không phải thơ ngây!) của ông Bhun khi đưa tay chỉ ra nơi người M’nông mình bao đời đậu plung: “Tới khi mấy chiếc đó hỏng lụi ít năm nữa là xong, chấm hết thôi!”.

Plung, mi chỉ là kỷ niệm, là câu chuyện về buổi ban đầu của loài người. Cái buổi ban đầu là thời lộng lẫy sát thực, ít hiểm ác, tranh chấp và tham lam; còn buổi hiện đại sao cứ diêm dúa, ảo tưởng. Mà loài người có một thứ bệnh trầm kha như số mệnh giống loài là càng già, càng tối tân lại càng ưa nhìn về quá khứ, nguồn cội. Nên còn lâu họ mới quên mi, dù tới ngày mi không còn bóng dáng nữa như ông Y Bhun nói. Rồi họ sẽ đào sâu ký ức về mi, điều nghiên về mi, khảo cứu về mi, kể chuyện huyên thuyên về mi. Hành trình có mặt trên đời của mi như thể cũng vẻ vang rồi.

Khép mắt đi, plung. Riêng ta, ta cúi đầu đăng ký làm người đầu tiên nhớ về mi, dù lúc mi hấp hối nhất ta vẫn không hề cứu mi. Ta nhỏ lệ cho mi mà như đang nhỏ lệ cho giống loài mình, cho con người, cho chính ta.


NGUYỄN HÀNG TÌNH