Sống cuộc đời đáng sống
Đại tá Lê Tấn Quốc, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đã “sống cuộc đời đáng sống” như tựa đề cuốn hồi ký của ông.

“Sáu Nhứt Xứ” là cách gọi dân dã của bà con Củ Chi về ông để nói lên cái tài đối phó với giặc từ những năm 1950.

Anh “Sáu Nhứt Xứ”

Sau Hiệp định Genève (1954), ông thường xuyên đi lại căn cứ Củ Chi-Sài Gòn để tổ chức, ráp nối các cơ sở cách mạng. Lúc này, mỗi khi bắt được cán bộ cách mạng, giặc thường chặt đầu, mổ bụng. Hầu hết cán bộ muốn về căn cứ đều có giao liên đưa đón. Riêng ông thông thuộc đường đi, nắm vững tình hình địch nên ra vào Sài Gòn thường xuyên mà không hề hấn gì. Vì vậy mà bà con gọi ông là “Sáu Nhứt Xứ”.

Tuổi thơ của ông gắn với sự lam lũ của vùng quê nghèo huyện Thủ Đức. Mới 10 tuổi, Lê Tấn Quốc đã leo lên hàng trăm cây cau mỗi ngày để hái mướn kiếm tiền đỡ đần mẹ.

Hoạt động cách mạng đầu tiên mà ông tham gia là biểu tình cướp chính quyền ở Thủ Đức trong Cách mạng Tháng Tám. Sau đó, ông được bầu làm bí thư Ban Chấp hành Thanh niên cứu quốc làng Tam Đa. Tháng 5-1948, ông được kết nạp vào Đảng. Đó là “một sự kiện quyết định đối với toàn bộ cuộc đời sau này của tôi” - ông kể trong hồi ký.

Cũng từ đó, ông tham gia nhiều hoạt động, từ tuyên truyền đến chiến đấu. Hoạt động nào ông cũng đóng vai trò then chốt. Ông giáp mặt với địch không biết bao lần và luôn làm chủ tình thế, ứng xử linh hoạt khiến địch có muốn giữ ông lâu cũng khó.

Có lần ông bị địch bắt, thu hết mấy chục ngàn đồng (số tiền khá lớn lúc bấy giờ). Với tài ứng phó khôn khéo, địch buộc phải thả ông và trả lại giấy tờ, tiền bạc. Tuy nhiên, số tiền trả lại thiếu 500 đồng. Ông nhất quyết không chịu đi, một mực ở lại đòi cho bằng được. Có người lo lắng hỏi: “Nó đã trả tự do, sao chú không đi liền còn vào bót làm gì?”. “Mình là người dân hợp pháp thì phải xử sự đúng vai trò, bằng không bọn chúng nghi ngờ!” - ông bình thản trả lời…

Anh hùng lực lượng vũ trang Lê Tấn Quốc (bìa phải) trong một lần họp mặt các cựu tù binh. người thứ ba từ phải qua là ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Đầu năm 1969, trong một trận càn, một đồng đội đi cùng để bảo vệ ông phải hy sinh, còn ông bị thương, địch bắt đưa về bót của quận Trúc Giang (Bến Tre). Dự liệu trước tình thế, ông liền nghĩ ra cách hoán đổi vị trí cho người đồng đội cấp dưới đã hy sinh. Trước sau như một, ông khai mình chỉ là thư ký cho người chỉ huy đã hy sinh. “Đây là giờ phút cuối cùng, chết đến nơi rồi, mày suy nghĩ lại để tự cứu mình” - không biết bao nhiêu lần địch hăm he ông như vậy. Thậm chí đã có lúc chúng ra lệnh xử bắn ông hòng đe dọa để ông khai báo nhưng vẫn không lay chuyển được ông.

Tháng 9-1969, ông bị đưa đến trại giam tù binh cộng sản Phú Quốc, nơi được ví như một địa ngục trần gian. Ông nếm đủ món tra khảo man rợ nhất. Hết nhốt vào “chuồng cọp” rồi dùng búa gõ vào cùi chỏ, đầu gối, đục răng, cho ở biệt giam ngoài trời và cả giam vào thùng sắt ban ngày nóng như lửa đốt, tối đến lạnh buốt xương. Nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết, lý tưởng cách mạng cho đến khi chúng phải trao trả tù binh năm 1973 theo Hiệp định Paris. Sau đó, ông tiếp tục hoạt động và trực tiếp tham gia cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 ở cánh Tây Nam.

Bình dị và thanh sạch

Sau giải phóng, ông công tác tại Ban Chỉ huy quân sự quận 5 và tháng 11-1987, ông được phong hàm đại tá.

Thời gian này, tình hình kinh tế khó khăn, không ít lần ông nhận được nhiều lời gợi ý hợp tác để tư lợi riêng. Lúc chỉ huy việc đào kênh ở Củ Chi, một cán bộ phụ trách hậu cần thấy còn dư gạo và tiền đã gợi ý với ông tính toán gian, nâng chi phí cho hết tiền dư và lố ra để xin thêm kiếm chác. Ông nhất quyết không cho sửa sổ sách. Hầu như không có đội nào hoàn thành công trình mà trả lại tiền cho nhà nước như đội của ông. “Đó là một nguyên tắc bất di bất dịch trong quan điểm sống của tôi cho dù có ai nói tôi dại đi nữa!” - ông quả quyết.

Trung tá Huỳnh Văn Minh, chính trị viên Ban Chỉ huy quân sự quận 6, kể: “Khi tôi làm lính ở dưới phường, còn ông làm ở Ban Chỉ huy quân sự quận 5, ông rất hay xuống phường chia sẻ với anh em. Riết rồi thân thiết nên tôi gọi ổng là tía luôn chứ ít khi nào gọi là chỉ huy. Tía làm chuyện gì cũng nghĩ đến anh em chứ không bao giờ tư lợi riêng cho mình. Tôi có biết thông tin hồi trước nhà nước có lần cấp cho tía một căn nhà dạng biệt thự rộng lắm. Thế nhưng ông từ chối vì đã có nhà đủ cho gia đình sống rồi. Tía nói: Nhà rộng mà ít người ở uổng lắm!”.

“Ba là thần tượng của tôi”

Ông Lê Tấn Tài, Chủ tịch UBND phường 6, quận 5, con trai đầu của Đại tá Lê Tấn Quốc, kể: “Đã ba lần ba tôi được đồng đội, tổ chức đề xuất viết báo cáo đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng nhưng do thời gian bị địch bắt tù đày có một người trùng tên với ba chiêu hồi nên các đề xuất bị gián đoạn để kiểm tra, xác minh. Mãi đến năm 2005, ông Tài thay cha làm lại đề xuất. “Hôm nay ba tôi đã được công nhận danh hiệu Anh hùng. Đây là một vinh dự lớn cho ba và cả gia đình tôi. Ba tôi vẫn hay nói mình may mắn hơn nhiều đồng đội khác vì được sống trong hòa bình bên gia đình, con cái, cháu chắt, vậy là hạnh phúc rồi”.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Tấn Quốc năm 1954. (Ảnh do gia đình cung cấp)

Ông Lê Tấn Tài vẫn nhớ mãi cách dạy dỗ của cha mình: “Cách dạy con của ba rất gần gũi. Đến cách ba chỉ tôi chụm lửa cũng là chỉ tôi cách sống: “Lòng dân phải chặt, lòng lửa phải trống”. Với tôi, ba chính là thần tượng chi phối mọi tư tưởng, suy nghĩ cũng như hành động trong cuộc sống. Cho đến phút cuối đời, ba bị căn bệnh ung thư dày vò nhưng vẫn bình tĩnh như không có gì đau đớn mà ngược lại còn là chỗ dựa trấn an mọi người trong gia đình”.

Trong hồi ký của mình, Đại tá Lê Tấn Quốc viết: “Tôi vô cùng tự hào đã được góp sức lực khiêm tốn của mình vào sự nghiệp chung, làm tròn lời thề trước bàn thờ tổ quốc, trước Đảng kỳ. Giờ đây, tôi luôn thấy lòng nhẹ nhàng, thanh thản vì đã làm tròn bổn phận của người công dân, yên tâm vui sống và sống cuộc đời đáng sống”.

Ông nghỉ hưu năm 1988 và mất năm 2006.

Hôm nay: Tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho 41 tập thể, cá nhân

Sáng nay (17-4), thành phố sẽ tổ chức lễ trao tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 12 tập thể và 29 cá nhân. Buổi lễ nhằm tôn vinh những tập thể và cá nhân đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến, bảo vệ tổ quốc .

Trong 29 cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng có hai cá nhân hiện vẫn còn sống. Đó là Đại tá Lê Văn Nón - nguyên Phó Trưởng Công an huyện Củ Chi và Thượng tá Phan Thị Ngọc Tươi - nguyên Phó Trưởng Ban Hành chính-Quản trị, báo Công An TP.HCM. 27 cá nhân còn lại đã hy sinh trong lúc chiến đấu hoặc đã qua đời.

Đại tá Lê Tấn Quốc là một trong 27 cá nhân đã qua đời năm 2006 được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong buổi lễ này.

Buổi lẽ sẽ diễn ra tại Nhà hát lớn TP vào lúc 7 giờ 30 và được truyền hình trực tiếp trên Đài Truyền hình TP, Đài Tiếng nói nhân dân TP.

THU HẰNG