Tiến sĩ-luật sư Phan Trung Hoài (Đoàn luật sư TP.HCM):
Luật rõ nhưng thi hành không chuẩn
Báo đã gợi ra vấn đề pháp lý nan giải thường nảy sinh trong đời sống tố tụng, trong đó nhiều số phận pháp lý bị “treo” không biết đến bao giờ. Thật ra những trường hợp này không phải luật không dự liệu mà do người thừa hành không chuẩn mà thôi. Luật đã nói rất rõ cơ quan tố tụng chỉ tạm đình chỉ trong các trường hợp bị can bị tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo; không xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu; vụ án có nhiều bị can, mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
Đối chiếu trường hợp của ông HPN mà Báo nêu, Công an tỉnh Đồng Nai ra quyết định tạm đình chỉ là sai vì ông N. không bị bệnh tâm thần, không thuộc trường hợp không rõ địa chỉ hoặc đang bỏ trốn. Công an không thể buộc ông N. chịu trách nhiệm cho hành vi bỏ trốn của bị can khác trong vụ án.
Luật cũng quy định rất cụ thể về thời hạn điều tra, điều tra lại, nêu rõ nếu đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm, cơ quan tố tụng phải ra quyết định đình chỉ điều tra chứ không thể treo lơ lửng thân phận bị can mãi như thế.
Ông Võ Văn Thêm, kiểm sát viên cao cấp VKSND tối cao:
Bị can không có lỗi
Việc sau khi cấp phúc thẩm hủy án, các cơ quan tố tụng sơ thẩm lại đi tạm đình chỉ vụ án vì lý do bị can khác đã bỏ trốn là điều bất thường. Bởi lẽ bị can khác bỏ trốn là sự kiện có từ trước, sao không tạm đình chỉ ngay mà đợi đến khi không kết tội được mới lấy ra làm lý do để tạm đình chỉ? Đây là điều không “sòng phẳng” với bị can, cần đình chỉ bị can. Nếu sau này bắt được bị can đã bỏ trốn, vẫn có thể phục hồi điều tra (nếu còn thời hạn).
Cạnh đó, vì vụ án đã được điều tra rồi, các tình tiết, ngóc ngách của vụ án đã được mổ xẻ nên khi thụ lý điều tra lại phải tuân thủ chặt chẽ thời hạn điều tra, truy tố trong luật. Nếu hết thời hạn quy định mà không chứng minh được hành vi phạm tội thì đình chỉ vụ án.
Ở góc độ khác, một khi tạm đình chỉ tức là họ vẫn còn là bị can. Điều này gây nhiều hệ lụy cho họ như chưa được xuất cảnh, lập doanh nghiệp... mà lỗi này đâu phải do họ gây ra!
Tiến sĩ Nguyễn Duy Hưng, Trường đại học Luật TP.HCM:
“Treo” mãi là bất hợp lý
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rất chặt về tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra bị can, thời hạn điều tra lại... Với những vụ án, sau khi hủy nhưng cơ quan tố tụng tạm đình chỉ, “bỏ quên” là không hợp lý, phải đình chỉ điều tra mới công bằng với họ.
Pháp luật tố tụng cũng có cơ chế khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, có thể họ không biết hoặc họ là bị can nên ngại thực thi quyền này. Vì thế, tôi cho rằng các cơ quan tố tụng nên chủ động đình chỉ cho họ chứ không thể tạm đình chỉ hoặc bỏ lửng thân phận bị can.
Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc (Đoàn luật sư TP.HCM):
Nặng hơn hình phạt
Các cơ quan tố tụng không thể lấy bất kỳ lý do gì để bỏ lửng vụ án. Đây là điều không bình thường bởi ngoài chuyện vi phạm nghiêm trọng về thời hạn điều tra, truy tố, nó còn ảnh hưởng nặng nề đến những người liên quan. Tôi cho rằng để cho một người sống trong tâm trạng bất an vì chờ đợi còn gây hệ lụy nặng nề hơn là chỉ rõ sai phạm của họ rồi bắt họ gánh chịu hình phạt...
| Những vụ án “sòng phẳng” hiếm hoi - Năm 2003, Công an TP.HCM khởi tố bà Lê Thị Lộc và ông Trần Văn Thống về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tháng 5-2006, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM hủy phán quyết kết tội họ của TAND TP để điều tra, xét xử lại. Hơn một năm sau, Công an TP đã đình chỉ điều tra với họ vì “hết thời hạn điều tra”. Mới đây, TAND TP đã bồi thường oan cho hai người. - Đầu năm 2002, ông Trương Bá Nhàn bị Công an TP.HCM bắt vì nghi ông giết người, cướp tài sản. Chín tháng sau, VKSND TP ra cáo trạng truy tố nhưng TAND TP không đồng tình vì chứng cứ buộc tội quá lỏng lẻo nên trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Sau hơn ba năm điều tra lại không làm sáng tỏ hơn được gì, đầu tháng 9-2005, Công an TP trả tự do cho ông Nhàn kèm với quyết định đình chỉ điều tra vì “hết thời hạn điều tra, chưa đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội”. |
VI TRẦN