Thủy điện xả bùn, dân khát nước

Pháp Luật TP.HCM đã nhiều lần phản ánh hàng vạn người dân Gia Lai sống ven sông Ba khốn khổ khi dòng sông bị khô cạn, ô nhiễm trầm trọng do công trình thủy điện An Khê - Ka Nak chặn dòng, dẫn nước về sông Kôn. Giờ người dân càng thêm điêu đứng khi hồ chứa công trình thủy điện này tống ra sông một lượng bùn đậm đặc...

Sống bên sông mà bị khát

Chưa bao giờ người dân sống ven sông Ba thuộc các vùng đông và đông nam của Gia Lai bị thiếu nước sinh hoạt trầm trọng như hiện nay. Tình trạng này khiến cuộc sống người dân bị đảo lộn nghiêm trọng.

Cứ mờ sáng và cuối giờ chiều, từng đoàn người chạy xe máy chở can nhựa vượt hàng chục cây số vào sâu trong các ngôi làng ở huyện Kbang để mua, lấy nước về dùng. Trên đường, những chiếc xe tải nhỏ chở những thùng nước vào bán trong các khu dân cư. Ông Nguyễn Trần Thành (ở khu phố 8, phường An Bình, thị xã An Khê) mệt mỏi nói: “Cả tháng nay nhà tôi không còn nước máy. Gia đình tôi có sáu người, mỗi ngày phải đi chở ít nhất hai lần mới tạm đủ nước ăn uống. Còn tắm rửa, giặt giũ thì phải chia nhau đến các nhà có giếng sử dụng nhờ”.

Bà Trang Thị Hà, nhà ở ven sông Ba thuộc phường Tây Sơn, thị xã An Khê, than thở: “Bí bách quá, gia đình tôi thuê người khoan giếng, mua máy bơm tổng cộng hơn 25 triệu đồng. Thế nhưng nước bơm lên không dùng được vì nhiễm phèn nặng. Mỗi tuần gia đình tôi phải tốn ít nhất 200.000 đồng thuê xe chở nước”. Nhiều người dân thị xã An Khê cho biết từ khi nguồn nước máy không còn đảm bảo rồi mất hẳn, “cơn sốt” khoan giếng bắt đầu bùng phát. Thế nhưng phần lớn các giếng đều bị nhiễm phèn nặng.

Ông Lê Đình Đương, Trưởng ban Quản lý Nhà máy nước An Khê, cho biết: “Trước đây nhà máy nước hoạt động với công suất 1.500 m3/ngày đêm để cung cấp nước sinh hoạt cho hơn 2.700 hộ. Thế nhưng từ khi nguồn nước sông Ba bị ô nhiễm nặng, nhất là gần đây lượng bùn trong nước quá đậm đặc, nhà máy bị xuống cấp rất nhanh, thậm chí nhiều lúc như tê liệt. Trong khi chúng tôi đã tăng chi phí mua vật tư, hóa chất xử lý nước lên gấp đôi nhưng vẫn không thể lọc hết được bùn, tạp chất. Hiện nhà máy chỉ còn chạy một máy với 60% công suất”.

Ông Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch UBND thị xã An Khê, tiếp lời: “Hiện nhà máy nước của thị xã chỉ đáp ứng 30% nhu cầu nước sinh hoạt của người dân địa phương. Thiếu nước đang là vấn đề bức bách nhất của thị xã An Khê”.

Các huyện Kon Chro, Ia Pa, Krông Pa, thị xã Ayun Pa cũng đang xảy ra tình trạng tương tự. Theo Ban Quản lý Nhà máy nước huyện Kon Chro, chi phí mua hóa chất xử lý nước của nhà máy này đã tăng gấp ba lần nhưng vẫn không đảm bảo do lượng bùn trong nước quá lớn.

Thủy điện xả bùn, dân khát nước ảnh 1

Cống ngầm xả nước ra sông Ba đặt sâu bên dưới cửa xả lũ của hồ thủy điện An Khê. Ảnh: TẤN LỘC

Thủy điện xả bùn, dân khát nước ảnh 2

Do nhà máy nước không còn cung cấp nên đường ống của gia đình bà Võ Thị Lan (ở khu phố 8, phường An Bình, thị xã An Khê, Gia Lai) đã khô không khốc từ nhiều ngày nay. Ảnh: TẤN LỘC

Dứt khoát không chịu đổi thiết kế (?)

Theo ông Nguyễn Văn Thắng, suốt thời gian dài nước sông Ba đỏ ngầu, đặc quánh, “thủ phạm” chính được xác định là nhà máy tuyển quặng sắt của Công ty TNHH MTV Chế biến khoáng sản K’bang xả bùn thải trực tiếp ra sông.

Thế nhưng từ khi nhà máy tuyển quặng bị buộc dừng hoạt động, nước sông Ba đoạn từ hồ chứa An Khê đổ về xuôi vẫn đặc quánh bùn đen. Vì thế, người dân cất công tìm hiểu và phát hiện “thủ phạm” chính làm nước sông Ba ô nhiễm là do hệ thống xả ngầm của công trình thủy điện An Khê - Ka Nak. Theo đó toàn bộ nguồn nước ở thượng nguồn sông Ba đều bị thủy điện An Khê - Ka Nak tích lại để vận hành hai nhà máy trước khi đổ ra sông Kôn (Bình Định). Để tận dụng nguồn nước cùng lúc vận hành hai nhà máy thủy điện, phần lớn hệ thống xả nước, dẫn nước của thủy điện An Khê - Ka Nak đều thiết kế ngầm. Hiện chỉ có duy nhất một cống xả nước ra sông Ba với lưu lượng 4 m3/s bằng một đường ống có đường kính 600 cm, chôn ngầm ở hồ trung chuyển An Khê.

Ông Thắng cho biết: “Kết quả kiểm tra cho thấy do thiết kế xả ngầm nên dòng chảy này nằm ở tầng dưới của hồ chứa. Vì thiết kế sát tầng đáy nên hiện lượng nước xả ra sông Ba chủ yếu là lớp bùn của lòng hồ. Đây là nguyên nhân làm nước sông Ba đậm đặc bùn đen”.

Bà Đặng Thị Yến, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã An Khê, nói: “Với thiết kế xả ngầm này, lượng nước chảy ra sông Ba chủ yếu là bùn, không biết bao giờ dòng sông mới hết đục bùn”.

Trong khi đó, đại diện Ban Quản lý Dự án thủy điện 7, chủ đầu tư công trình thủy điện An Khê - Ka Nak, lại nói: “Lớp bùn dưới lòng hồ chảy ra sông một thời gian rồi sẽ hết, khi đó nước sẽ hết đục!”. Thế nhưng không ai biết đến bao giờ nước xả ra sông mới hết bùn.

Chính quyền, các cơ quan chức năng tỉnh Gia Lai đã yêu cầu Ban Quản lý Dự án thủy điện 7 tăng lưu lượng xả nước để giảm lượng bùn đổ ra sông Ba, tuy nhiên chủ đầu tư công trình thủy điện này không đáp ứng vì cho rằng “thiết kế đã như vậy”!

Đánh giá tác động môi trường có vấn đề?

Các nhà thiết kế công trình thủy điện An Khê - Ka Nak chưa tính toán hết những tác động của công trình. Thứ nhất, công trình này sử dụng nước sông Ba nhưng lại dẫn đổ xuống sông Kôn làm các địa phương nằm phía dưới thủy điện bị thiếu nước trầm trọng, nhất là mùa khô. Thứ hai, thiết kế xả ngầm khiến dòng chảy chỉ ở tầng dưới, nước xả ra sông Ba chủ yếu là lớp bùn bên dưới lòng hồ. Chưa hết, hệ thống dẫn nước ngầm cũng có nhiều bất ổn. Hiện nay hệ thống dẫn ngầm dẫn nước xuống vận hành Nhà máy thủy điện An Khê (ở huyện Tây Sơn, Bình Định) có lưu lượng tối đa chỉ 50 m3/s. Mỗi khi có mưa lũ lớn ở thượng nguồn, các hồ chứa có thể đồng loạt xả lũ, hậu quả chưa thể lường hết được.

Ông NGUYỄN VĂN THẮNG, Chủ tịch UBND thị xã An Khê

TẤN LỘC