Tình huống trên đã phát sinh trong một số phiên xử hình sự gần đây. Điều đáng nói là song song đó cũng đã xuất hiện sự thiếu thống nhất trong cách xử lý của cơ quan tố tụng: Có tòa thì từ chối ngay nhưng có tòa lại dễ dãi cho phép...
Mỗi tòa một cách xử lý
Mới đây, trong phiên xử một vụ lừa đảo tại TAND TP.HCM, ở phần xét hỏi, sau khi hội đồng xét xử và công tố viên đã thẩm vấn xong, bị cáo liền đề nghị được hỏi trực tiếp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo này nói mình không mời luật sư, tự bào chữa nên rất cần được trực tiếp hỏi để làm rõ một số vấn đề.
Trả lời, chủ tọa phiên tòa nói không thể chấp nhận yêu cầu này của bị cáo vì không được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Nếu bị cáo thấy vấn đề nào chưa rõ thì có quyền đề nghị hội đồng xét xử để hội đồng xét xử hỏi lại và làm sáng tỏ.
Ngược lại, tại một phiên xử sơ thẩm vừa qua ở một huyện thuộc tỉnh Điện Biên, gặp tình huống trên, chủ tọa phiên tòa đã đồng ý và yêu cầu những người được bị cáo hỏi phải trả lời câu hỏi của bị cáo. Chủ tọa chỉ nhắc nhở bị cáo là những gì đã được tòa, VKS, luật sư hỏi trước đó thì không được hỏi lại...
Cách nào đúng luật?
Từ hai vụ án trên đã phát sinh hai luồng quan điểm khác nhau xung quanh việc bị cáo có được trực tiếp hỏi những người tham gia tố tụng khác tại tòa hay không.
Một số cán bộ tố tụng cho rằng Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định nào cấm bị cáo được đặt câu hỏi đối với những người tham gia tố tụng khác. Mặt khác theo luật, bị cáo có quyền tự bào chữa, quyền được đưa ra chứng cứ, tài liệu để bảo vệ mình thông qua việc tranh tụng ở phiên xử. Việc trực tiếp đặt câu hỏi với những người tham gia tố tụng khác cũng là một phương thức của hoạt động tự bào chữa. Chưa kể, nó còn đảm bảo tính bình đẳng cho bị cáo trước tòa...
Nhiều chuyên gia pháp luật khác lại không đồng tình. Theo họ, do tính chất đặc biệt của phiên tòa hình sự, những người tiến hành tố tụng (thẩm phán, thư ký phiên tòa, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên) và những người tham gia tố tụng (luật sư, bị cáo, người bị hại, người làm chứng...) phải tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mà ở đây, rõ ràng luật không quy định về quyền được hỏi của bị cáo nên việc chủ tọa cho phép bị cáo được trực tiếp hỏi những người tham gia tố tụng khác như trên là sai.
Bàn sâu hơn, thẩm phán Phạm Công Hùng (Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM) phân tích: Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tố tụng. Bị cáo có quyền chứ không có nghĩa vụ phải chứng minh mình không phạm tội. Trên cả lý thuyết lẫn thực tiễn, cả khi bị cáo nhận tội mà qua hồ sơ lại thể hiện không phạm tội thì tòa vẫn tuyên bị cáo trắng án bởi lời khai của bị cáo không phải là chứng cứ duy nhất để buộc tội.
Tại tòa, bị cáo không có quyền xét hỏi mà muốn hỏi ai thì có quyền đề nghị hội đồng xét xử hỏi thêm. Điều 50 Bộ luật Tố tụng hình sự (quy định về quyền của bị cáo) không có chỗ nào đề cập đến quyền được hỏi. Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng chỉ quy định bị cáo có quyền đề nghị với chủ tọa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
| Kiểm sát viên cao cấp Nguyễn Thanh Sơn(Viện phúc thẩm III): Dân chủ nhưng phải trong khuôn khổ Các quyền của bị cáo đã được luật quy định rất cụ thể, trong đó không có quyền được hỏi trực tiếp người tham gia tố tụng khác. Chủ tọa điều hành phiên tòa cũng không thể vượt quá giới hạn luật cho phép bởi các cơ quan pháp luật chỉ được làm những điều luật đã định. Dân chủ cũng phải trong khuôn khổ pháp luật chứ không thể tùy tiện. Một khi pháp luật đã đặt ra những nguyên tắc chung khi xét xử thì cần phải được tôn trọng và thực hiện đúng. Nếu cho bị cáo quyền được hỏi thì những người tham gia tố tụng khác cũng được quyền hỏi lại bị cáo, thậm chí bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng có thể hỏi ngược công tố viên và hội đồng xét xử. Phiên tòa lúc đó sẽ trở nên lộn xộn và việc xác định sự thật khách quan của vụ án sẽ trở nên khó khăn hơn. |
HOÀNG YẾN