Một án lệ về quyết định hành chính về xác định thẩm quyền thụ lý

Nguồn Án lệ dựa trên Quyết định giám đốc thẩm số 06/2019/HC-GĐT ngày 2-4-2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về vụ án khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.

Người khởi kiện là ông Thái Văn N, người bị kiện là Chủ tịch UBND tỉnh Đ.; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nhà thờ V. (Nhà thờ).

Một án lệ về quyết định hành chính về xác định thẩm quyền thụ lý   ảnh 1
Hình minh họa

Nội dung vụ án

Theo ông N., nguồn gốc đất tranh chấp là của Nhà thờ. Năm 1976, Nhà thờ cho ông N. cất nhà ở trên đất và trông coi Nhà thờ. Ông N. cất nhà ở trên phần đất ngang 5m, phần đất còn lại, ông N. trồng cây.

Năm 1986, gia đình ông N. có xây thêm 2 phòng ở và 1 nhà bếp.

Năm 1999, đất Nhà thờ bị sạt lở nên Nhà thờ đã di dời. Ngày 18-1-2003, Linh mục quản nhiệm cùng đại diện Ban Quới chức Họ đạo Nhà thờ đã lập "Tờ giao đất" giao cho ông N. sử dụng phần đất với tổng diện tích là 300m2.

Năm 2009, ông N. sửa chữa nhà và cất thêm cửa hàng mua bán, Nhà thờ không đồng ý nên xảy ra tranh chấp. Ông N. cho rằng ông đã được Nhà thờ cho đất theo tờ giao đất.

Nhà thờ gửi đơn đến UBND tỉnh Đ. đề nghị giải quyết. Ngày 14-5-2012, Chủ tịch UBND tỉnh Đ. ban hành quyết định giải quyết giao cho ông N. được quyền sử dụng diện tích đất ngang cạnh là 5,8m và 5,4m, chiều dài cạnh 23,8 m và 24,3 m, phần còn lại buộc ông N. phải di dời vật kiến trúc, cây trồng trả lại đất cho Nhà thờ.

Ông N. khởi kiện đề nghị hủy quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh.

Nhà thờ trình bày rằng hai bên có làm tờ giao đất, hai bên thoả thuận miệng, mục đích là để trao đổi vật tư xây dựng Nhà thờ, nhưng gia đình ông N. không thực hiện nên Nhà thờ không ra UBND xã để xác nhận giấy giao đất cho ông N.

Nhà thờ chỉ đồng ý cho ông N. sử dụng phần đất chiều ngang 4m, phần đất chiều ngang 1,2m phải thỏa thuận giá với Nhà thờ, diện tích còn lại phải trả lại cho Nhà thờ.

Xử sơ thẩm năm 2014, TAND tỉnh Đồng Tháp bác yêu cầu của ông N. Ông N. kháng cáo. Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Tháp kháng nghị đề nghị sửa bản án sơ thẩm, hủy một phần quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Đ.

Xử phúc thẩm năm 2015, TAND Cấp cao tại TP.HCM đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Tháp, không chấp nhận kháng cáo, giữ y án sơ thẩm.

Ông N. có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Năm 2018, UBND tỉnh Đ. có ba văn bản đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ngày 9-11-2018, Chánh án TAND Tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đề nghị hủy cả hai bản án phúc thẩm và sơ thẩm; giao hồ sơ cho TAND tỉnh Đồng Tháp giải quyết sơ thẩm lại.

Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cho rằng về thẩm quyền giải quyết, ông N. cho rằng ông đã được Nhà thờ cho đất theo tờ giao đất. Đại diện Nhà thờ thừa nhận có tờ giao đất nhưng cho rằng ông N. không thực hiện việc trao đổi vật tư để xây dựng Nhà thờ mới nên Nhà thờ không ra UBND xã xác nhận giấy giao đất cho ông N.

Do vậy, tranh chấp giữa hai bên có liên quan đến hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa Nhà thờ với ông N., nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo khoản 3 Điều 25 BLTTDS 2004, khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015. Việc Chủ tịch UBND tỉnh Đ. ban hành quyết định giải quyết là không đúng thẩm quyền.

Về nội dung tờ giao đất không phải là hợp đồng chuyển QSDĐ, thực chất là Nhà thờ xác nhận việc giao đất cho ông N. có quyền sử dụng (như một hợp đồng tặng cho đất) để ông N có cơ sở đăng ký QSDĐ...

Chủ tịch UBND tỉnh Đ. ban hành quyết định giải quyết buộc gia đình ông N. di dời vật kiến trúc... để giao trả lại 102,2m2 đất cho Nhà thờ là không đúng...

Chủ tịch UBND tỉnh Đ. ban hành quyết định giải quyết không đúng thẩm quyền, đường lối giải quyết vụ án cũng không đúng pháp luật.

Vì vậy, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án TAND Tối cao, hủy bản án phúc thẩm, giao hồ sơ cho TAND Cấp cao tại TP.HCM xét xử phúc thẩm lại.

Nội dung án lệ

Ông N. cho rằng ông đã được Linh mục quản nhiệm Nguyễn Quang D. cùng đại diện Ban Quới chức họ đạo Nhà thờ V. cho đất theo “Tờ giao đất” lập ngày 18-1-2003.

Đại diện Nhà thờ V. thừa nhận có “Tờ giao đất” như ông N. trình bày, nhưng cho rằng ông N. không thực hiện việc trao đổi vật tư để xây dựng Nhà thờ mới nên Nhà thờ không ra UBND xã xác nhận giấy giao đất cho ông N.

Do vậy, tranh chấp giữa hai bên có liên quan đến hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa Nhà thờ V. với ông N., nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 25 BLTTDS 2004, khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015, Chủ tịch UBND tỉnh Đ. ban hành Quyết định số 197/QĐ-UBND-NĐ ngày 14-5-2012 giải quyết tranh chấp QSDĐ giữa Nhà thờ V. với ông N. là không đúng thẩm quyền.