Theo các cán bộ thi hành án, những “chiêu thức” tẩu tán tài sản phổ biến là chia tài sản chung trong hôn nhân; ly hôn và chia tài sản; cài thêm một hoặc nhiều chủ nợ giả…
Chia tài sản chung
Đây là “chiêu thức” quen thuộc của người muốn trốn thi hành án. Khi một bên vợ hoặc chồng bị thua kiện, bị cơ quan thi hành án phong tỏa tài sản, họ dắt nhau ra tòa xin chia tài sản chung. Hầu hết trường hợp này, người phải thi hành án đều vui vẻ nhường phần lớn tài sản cho vợ (hoặc chồng).
Chẳng hạn vụ nợ tiền kéo dài suốt hơn 12 năm nay của vợ chồng bà Đ. ở TP Huế. Theo hồ sơ, năm 1997, TAND tỉnh Thừa Thiên-Huế buộc bà Đ. phải trả cho chủ nợ hơn 399 triệu đồng. Chưa trả đồng nào vợ chồng bà Đ. đã dắt nhau ra tòa xin phân chia tài sản chung. Bà Đ. đồng ý nhường phần lớn tài sản chung cho chồng. Thỏa thuận này sau đó được TAND TP Huế công nhận.
Tháng 1-2008, TAND Tối cao đã xử giám đốc thẩm, hủy quyết định công nhận trên của TAND TP Huế. Theo TAND Tối cao, cấp sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận phân chia tài sản khi hôn nhân của vợ chồng bà Đ. đang tồn tại, không có tranh chấp chia tài sản là vi phạm tố tụng nghiêm trọng, trái với Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình. Dù vậy, đến nay chủ nợ của bà Đ. vẫn trắng tay vì tài sản của bà Đ. đã được tẩu tán sạch sẽ.
Ly hôn
Để cơ quan chức năng khỏi nghi ngờ, người phải thi hành án còn sẵn sàng xin ly hôn và chia tài sản dù thực tế có thể vẫn đang chung sống.
Tháng 6-2006, TAND quận 8 buộc ông T. phải trả cho ông S. 15 triệu đồng tiền nợ gốc và lãi nếu chậm thi hành án. Hai tháng sau, cơ quan thi hành án ra công văn đề nghị các cơ quan chức năng ngăn chặn chuyển dịch căn nhà của vợ chồng ông T. Án chưa được thi hành thì tháng 12-2007, vợ chồng ông T. ly hôn theo quyết định của TAND quận 8. Sau đó, ông T. đồng ý nhường quyền sở hữu toàn bộ căn nhà đang bị kê biên trên cho vợ.
Năm 2008, TAND TP.HCM lại tuyên ông T. có nghĩa vụ trả nợ cho người khác 800 triệu đồng. Tháng 4-2008, chấp hành viên trong vụ này lại có công văn gửi các cơ quan chức năng đề nghị ngăn chặn chuyển dịch đối với căn nhà của ông và vợ cũ.
Tháng 4-2008, vợ cũ của ông T. thay ông này trả nợ cho ông S. 15 triệu đồng và lãi chậm thi hành án theo bản án năm 2006 rồi đề nghị cơ quan thi hành án giải tỏa lệnh kê biên. Sau đó, vợ cũ của ông T. lập thủ tục xin cấp giấy hồng. UBND quận 8 chấp nhận yêu cầu của bà này mà quên mất căn nhà vẫn đang còn bị kê biên trong vụ án năm 2008.
Tháng 9-2008, Chi cục Thi hành án quận 8 đã yêu cầu cơ quan chức năng tiếp tục ngăn chặn căn nhà trên vì ông T. chưa trả khoản nợ 800 triệu đồng theo bản án năm 2008. Chi cục cũng kiến nghị UBND quận 8 xem xét lại việc cấp giấy hồng cho vợ cũ của ông T.
Vợ cũ của ông T. làm đơn khiếu nại lên Cục Thi hành án TP, kêu rằng căn nhà trên là tài sản riêng của bà nhưng bị bác. Theo Cục Thi hành án, trong đơn xin ly hôn, vợ chồng bà đã không yêu cầu tòa giải quyết phần tài sản chung là căn nhà. Việc ông T. thừa nhận căn nhà là tài sản riêng của vợ sau khi có phán quyết của tòa là nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Tương tự là vụ ly hôn lùm xùm của bà M. ở Thống Nhất (Đồng Nai). Tháng 2-1999, TAND huyện này đã ra phán quyết cho vợ chồng bà M. ly hôn và chia tài sản. Phán quyết này đã bị các chủ nợ của bà M. khiếu nại tới tấp. Số là trước đó, bà M. bể hụi và tuyên bố “xù” nợ. Khi công an huyện đang xác minh dấu hiệu gian dối trong vụ bể hụi này thì vợ chồng bà nhanh chóng đưa nhau ra tòa ly hôn...
| Cài thêm chủ nợ? Mới đây, bà H. đã gửi đơn đến Chánh án TAND TP.HCM khiếu nại rằng chuyện vay mượn giữa ông C. và người em gái là giả tạo nhằm chia nhỏ phần ông C. nợ bà. Theo đơn, tháng 7-2009, TAND quận 10 công nhận ông C. thỏa thuận trả khoản nợ 2,5 tỉ đồng cho bà H. thành bốn đợt vào ngày 28 các tháng 8, 9, 10, 11-2009, nếu trả chậm còn bị tính thêm lãi suất ngân hàng. Sau đó, bà H. yêu cầu Chi cục Thi hành án quận 10 kê biên căn nhà của ông C. Tháng 11-2009, Chi cục Thi hành án thông báo với bà H. rằng căn nhà trên cũng đang được Chi cục Thi hành án quận 11 ủy thác nhờ kê biên trong một vụ khác. Tìm hiểu, bà H. mới hay ba tháng sau khi thỏa thuận với bà, ông C. bị người em gái kiện ra TAND quận 11 đòi khoản nợ lên đến 18,7 tỉ đồng và ông răm rắp đồng ý trả nợ. Theo bà H., vụ kiện của anh em ông C. rất bất thường: Ông C. thường trú tại quận 10, người em thường trú tại quận 1 nhưng TAND quận 11 thụ lý, giải quyết là sai thẩm quyền. Mặt khác, từ lúc TAND quận 11 nhận đơn khởi kiện của em ông C. cho đến lúc có quyết định ủy thác thi hành án chỉ vỏn vẹn… 26 ngày, một thời gian giải quyết án “siêu tốc”. Ngoài ra, chỉ trong ngày 24-11-2009, Chi cục Thi hành án quận 11 đã ra một lúc ba quyết định: Quyết định thi hành án, quyết định hủy quyết định thi hành án, quyết định ủy thác thi hành án. Qua hôm sau cơ quan này mới lập biên bản xác minh điều kiện thi hành án của đương sự... |
| Chỉ kéo dài chứ không thoát Chúng tôi thường xuyên gặp trường hợp đương sự tìm cách tẩu tán tài sản, cố tình gây khó khăn cho các chấp hành viên nhưng về cơ bản, những trường hợp này chỉ làm kéo dài thời gian thi hành án chứ không thoát được nghĩa vụ của họ. Bằng nhiều biện pháp nghiệp vụ, đa phần các chấp hành viên vẫn hoàn thành công việc. Cái khó nhất của cơ quan thi hành án bây giờ là phải thi hành án tài sản của những người thuộc diện chính sách như trả nhà, trục xuất người ta ra khỏi nhà để trả cho người khác, nhiều khi việc này lại đụng chạm đến chế độ của nhà nước, địa phương nên rất khó xử lý. Ông Võ Thành Danh, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự quận 8 Người được thi hành án phải chủ động Theo quy định, chấp hành viên có quyền áp dụng một số biện pháp để đảm bảo thi hành án như tạm giữ giấy tờ, đồ đạc, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản… Người được thi hành án có quyền đề nghị chấp hành viên thông báo tình trạng tài sản đảm bảo thi hành án lên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài,… để tránh nguy cơ bên phải thi hành án tẩu tán tài sản. Để bảo vệ mình, người được thi hành án nên liên hệ ngay với chấp hành viên khi bản án, quyết định của tòa có hiệu lực pháp luật để nêu yêu cầu và chứng minh. Cạnh đó, người được thi hành án phải thường xuyên theo dõi, nắm bắt thông tin để thông báo cho chấp hành viên. Thạc sĩ Lê Thị Hải Châu, giảng viên Đại học Luật TP.HCM |
HỒNG TÚ - PHAN THƯƠNG