LTS: Việt Nam đang nỗ lực đưa hơn 10.000 người lao động từ Libya về nước. Đây là cuộc hồi hương người lao động lớn thứ hai trong lịch sử. 20 năm trước, trong chiến tranh vùng Vịnh, chiến dịch đưa hơn 18.000 công dân về nước đã được chính phủ ta triển khai trong hai tháng từ 1-11 đến 30-12-1990. Pháp Luật TP.HCM giới thiệu loạt bài về cuộc hồi hương ấy qua hồi ức của một người trong cuộc.
Đầu năm 1989, sau gần 10 năm công tác tại Công ty Xây dựng Thủy lợi 26 - Bộ Thủy lợi, tôi được xét duyệt cho đi lao động hợp tác tại nước Cộng hòa Iraq. Đây là loại hình lao động nghĩa vụ. Thành quả sau hai năm trở về duy nhất là tấm séc du lịch do nước bạn thưởng trị giá từ 650 USD đến 768 USD, tùy chức danh.
Giấc mơ đổi đời
Với tấm séc ấy, những người đi trước được Nhà nước cho mua nhập khẩu một chiếc xe Honda Cub 81 đời cuối “kim vàng, giọt lệ” hoặc chiếc nữ hoàng màu ớt chín. Bán xe, họ đã thừa mua một ngôi nhà ở các tỉnh lẻ. Bởi thế, ai cũng hồ hởi xem đây là cơ hội “đổi đời”, có người là kỹ sư, chuyên viên, cán bộ quản lý... không có trong danh mục hợp tác họ vẫn tình nguyện đi làm lao động phổ thông, vệ sinh viên, cấp dưỡng... Theo hợp đồng năm 1988, 1989 và 1990 sẽ có 1 vạn lao động VN qua Iraq làm việc trong lĩnh vực xây dựng. Nguồn cung ứng lao động từ Bộ Xây dựng và Bộ Thủy lợi.
Tùy theo chức danh, nghề nghiệp đảm nhận mà người lao động hưởng lương, bình quân khoảng 300 USD. Nhà nước trích 2/3 trả nợ dầu nước bạn trong chiến tranh chống Mỹ, phần còn lại quy ra dinar (tiền Iraq) để người lao động chi tiêu, sinh hoạt trên đất bạn.
Khi đã yên vị trên máy bay, tôi quay lại nhìn phía sau mới hiểu tại sao cả phi hành đoàn người ngoại quốc thỉnh thoảng nhìn chúng tôi rồi tủm tỉm cười! Hóa ra 175 con người cùng mặc complet, cravat một màu, đầu đội mũ lông, chân mang giày quân đội, lại khoác thêm chiếc áo bia-ra-két màu ghi, chỉ khác nhau ở chỗ người thì cravat chật đến nghẹt thở, kẻ thì xộc xệch như dây thòng lọng tròng hờ! Ở khu nhập cảnh dành cho người Việt, họ í ới gọi, hỏi nhau vì không ai biết một chữ tiếng Anh.

Tác giả ở thành phố Mosul, Iraq ngày sắp có chiến sự.
Chúng tôi di chuyển lên phía bắc Iraq gần 500 km để đến Badush Camp. Đó là một ngôi làng được thiết kế với sức chứa hơn 1 vạn người, dành cho người nước ngoài làm việc trên công trường thủy lợi Badush. Phía tây làng là cánh đồng hướng dương chạy dọc theo con sông Tigris cuồn cuộn lấp lánh ánh mặt trời. Khu vực dành cho người Việt chiếm hơn 1/2 diện tích làng. Mỗi phòng rộng chừng 20 m2 được trang bị năm chiếc giường đệm cá nhân, một quạt trần, một quạt hơi nước và một chiếc tủ có năm ngăn. Tuy vậy nhưng ai cũng hoan hỉ vì ở VN có nằm mơ cũng không thấy!
Người Iraq mã hóa chúng tôi mỗi người một con số gọi là số Badush. Từ đó mỗi khi giao tiếp, điểm danh, lãnh lương chúng tôi chỉ dùng con số chiết danh này.
Badush là đập thủy điện tầm rất lớn, chặn ngang con sông Tigris dài gần 2.000 km, nổi tiếng hung dữ chảy từ Thổ Nhĩ Kỳ qua. Lực lượng lao động ở đây đông nhất là người VN, được đào tạo bài bản tại các trường dạy nghề trong nước, trưởng thành trên các công trình lớn như sông Đà, Thạch Hãn, Dầu Tiếng... Họ đã khiến cho những chuyên gia Anh, Pháp, Nga... ngạc nhiên vì khả năng tiếp cận nhanh các thiết bị thi công hiện đại và trình độ xử lý công việc chuyên môn quyết đoán.
Những ngày cận kề chiến tranh
Ngày tháng trôi, chỉ còn vài tháng nữa là tôi sẽ cầm tấm ngân phiếu lên máy bay về nước hân hoan thực hiện giấc mơ “đổi đời” của mình! Nhưng chuyện đời mấy ai lường được chữ ngờ…
Badush Camp có loa giăng tứ phía như các làng, xã VN thời bao cấp. Nhưng tin chiến sự Iraq chiếm giữ Kuwat (8-1990) hoặc diễn biến chiến sự giữa Iraq với Mỹ (10-1990) thì được giữ kín. Chỉ khi trên công trường vắng dần lao động người nước ngoài và những bạn da màu đến từ biệt về nước thì người lao động VN mới biết sắp xảy ra chiến sự...
Người Iraq lo lắng, họ tụm lại bàn tán, còn chúng tôi đa phần đã quen chiến tranh nên cảm nhận sự việc chưa đến nỗi trầm trọng, vẫn lạc quan nghĩ tình hình sẽ lắng dịu. Sự điềm nhiên ấy khiến người Iraq nhìn chúng tôi thán phục. Có lẽ trên các phương tiện thông tin nhà nước, Iraq đã tuyên truyền có một VN anh hùng từng thắng Mỹ. Ở các trung tâm hành chính và các công thự, ngày thường có cả chục lá cờ các nước nay chỉ còn hai lá cờ tung bay là cờ VN và cờ Iraq! Đi đâu chúng tôi cũng nhận được nụ cười thân thiện từ người Iraq.
Chiến sự ngày càng căng thẳng, Iraq đã ngưng cung cấp lương thực cho lao động VN từ khi bị cấm vận. Nhất là có tin “sét đánh”: Tín phiếu Iraq không còn giá trị nữa! Bắt đầu xuất hiện những khuôn mặt buồn xo vì giấc mơ “đổi đời” đã tan theo mây khói! Không ai thiết làm việc nữa, đều nôn nóng về nước. “Không biết người các nước di tản bằng cách gì mà lẹ vậy. Đối diện công trường chúng tôi có một nhà máy xi măng của người Trung Quốc, mới ngày trước người ra kẻ vào tấp nập, giờ vắng ngắt không một bóng người”. Đó là nỗi thắc mắc cũng là mơ ước của lao động VN. Trong khi ấy, chúng tôi chỉ mới nghe Sứ quán ta cử người về phát biểu một lần trên loa trấn an!
Đến khi Mỹ ra thông cáo buộc tất cả người lao động nước ngoài phải rút khỏi Iraq trước ngày 31-12-1990 (trong vòng 60 ngày), đồng thời tổ chức IOM (Di dân quốc tế) vào cuộc thì lãnh đạo đoàn lao động VN mới có kế hoạch di tản thông báo trên loa phóng thanh. Theo nhân viên sứ quán VN, lúc đó có khoảng 18.000 lao động VN làm việc tại Iraq. Riêng tại Badush cộng với các công trường nhỏ lân cận có khoảng 12.000 người. Như vậy mỗi ngày phải di tản tối thiểu 350 người (sức chở của hai chiếc Boeing 707). Kế hoạch di tản bằng đường hàng không qua sân bay Baghdad được dự phỏng qua loa sắt như sau:
Ngoài năm đoàn đã mãn hạn về trước, từ 1-11-1990 đến hết tháng sẽ đưa 72 đoàn người lao động VN và các công dân VN khác còn lại trên lãnh thổ Iraq. Ai đến Iraq trước thì về trước, phụ nữ và người kém sức khỏe được ưu tiên về trước. Ai hiện làm việc và sinh hoạt ở đâu thì vẫn duy trì như cũ, đến lượt về sẽ có người phụ trách thông báo tập kết về làng Badush.
Những ngày cuối ở Badush
Nghe vậy chúng tôi yên dạ phần nào. Tôi thuộc đoàn bay 36, không nằm trong diện di tản đợt đầu nên vẫn làm việc ở nhà máy sản xuất lưu huỳnh Misraq cách Badush một giờ ôtô. Khi công việc lắp ráp nhà máy được lệnh ngưng thì chúng tôi chuyển qua xây dựng công trình quốc phòng, đúc các bể bê tông cốt thép ngầm dưới đất chứa nước uống. Lương thực bị ngưng cung cấp, kỹ sư trưởng Iraq động viên bằng cách trả “tiền tươi thóc thật”, mỗi ngày cũng được 10 dinar/người (gấp ba ngày thường). Để quên đi thời gian chờ đợi và quan trọng là có tiền mua lương thực duy trì cuộc sống nên chúng tôi hằng ngày vẫn làm việc bình thường. Chiều chiều sau giờ làm việc chúng tôi phải ra bờ sông Tigris gần đó... kiếm ăn. Cua, trai ở đây to và nhiều vô kể do người Iraq không biết ăn hoặc kiêng cử đạo giáo. Nhờ vậy mà việc bị cắt lương thực chưa ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của chúng tôi.
Ngày 15-11-1990, sau bao ngày mong ngóng, tôi được thông báo về làng Badush để chuẩn bị về nước. Thời điểm này Badush còn hơn 5.000 người VN đang chờ đợi. Dẫu giàu tưởng tượng đến đâu tôi cũng không nghĩ làng thay đổi đến thế. Những con đường ngày nào có hơn 1 vạn người ở vẫn ngăn nắp, sạch đẹp giờ biến thành chợ trời, quán cóc đầy áo quần, vải vóc, rau cá, thuốc Tây, thuốc lá..., dịch vụ kiếm thêm của những người đã nghỉ việc chờ ngày về như tôi. Đằng sau họ còn cả một lực lượng sản xuất: Đánh cá, chế tác đồ mỹ nghệ, đồ chơi trẻ con cung cấp cho các cửa hàng người Iraq ở các thị tứ lân cận. Nhưng nhờ những “dịch vụ” này mà mọi người không bế tắc trong những ngày phấp phỏng chờ đợi. Quan niệm của họ là ngày nào còn ở thì còn làm việc để cuộc sống khỏi tẻ nhạt. Lúc nào về, còn bao nhiêu tiền nhét vội vào túi của người ở lại, cũng là sự thể hiện tình thân! (còn tiếp)
TRẦN KIÊM HẠ