K20 huyền thoại

Nhiều người không biết rằng trong lòng TP Đà Nẵng lại có một làng hầm Đá Mặn, di tích K20 huyền thoại.

Nhắc tới địa đạo Củ Chi người ta nghĩ tới đất thép thành đồng. Nhắc tới địa đạo Vĩnh Mốc người ta nhớ tới miền đất lửa Quảng Trị. Đường hầm Tây Giang viết thêm trang sử cho vùng đất Quảng Nam. Nhưng lịch sử lại ít nhắc đến “làng hầm” Đá Mặn, khu di tích K20 nổi tiếng một thời, cái nôi nuôi dưỡng cán bộ cách mạng trong thời kỳ gian khó chống Mỹ tại Đà Nẵng.

Mật hiệu mang tên K20

Khu di tích K20 làng Đá Mặn, phường Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn ngày nay là tên gọi bí mật được Quân ủy Quận III đặt tên trong kháng chiến chống Mỹ. K20 là mật hiệu liên lạc của quân dân Đà Nẵng nhằm tránh sự nhòm ngó của bọn mật thám, tay sai. Chính cái tên đó đã làm cho Mỹ-ngụy phải nhiều phen khiếp vía, phải thốt lên rằng “vùng đất quỷ thần”. Bởi quân dân nơi đây cứ đánh địch như từ trên trời rơi xuống, dưới đất chui lên làm giặc không kịp trở tay. Với khoảng 2.000 dân, rộng chừng 3 km nhưng K20 là nơi nuôi giấu cách mạng, là bàn đạp để quân dân Đà Nẵng góp phần đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Căn hầm dưới giường nhà mẹ Hải đã từng nuôi bốn cán bộ cách mạng. Ảnh: LÊ PHI

Mẹ Nguyễn Thị Hải (vợ liệt sĩ Mai Văn Phô) bồi hồi nhớ lại: “Hồi đó nhà nào cũng có hầm nuôi cán bộ, người dân nào cũng trở thành chiến sĩ. Ban ngày làm việc, ban đêm cùng bộ đội lên mặt đất phá kìm, diệt ác. Nhiều khi bộ đội lúc ẩn lúc hiện tiêu diệt địch làm chúng khiếp đảm, phải tổ chức các trận càn mà không thu được kết quả gì. Diệt ác ôn như trở thành ngày hội trong nhân dân”.

Năm 1962, nhân dân Đá Mặn đã tổ chức được một lực lượng du kích hùng mạnh tham gia làm nhiệm vụ “diệt ác, phá kìm”. Đến năm 1964, làng có gần 30 đội viên nòng cốt làm nhiệm vụ tiêu diệt ác ôn, tay sai. Những tên có nợ máu với nhân dân sớm được xếp vào “sổ tử” của quân dân Đá Mặn.

Chỉ trong một thời gian ngắn sau khi phong trào diệt ác phá kìm được Quân ủy Quận III phát động, đội quân này đã tiêu diệt được 12 tên ác ôn, phá hủy hàng chục ấp chiến lược của Mỹ-ngụy. Đá Mặn trở thành điểm “đỏ” trong các trận càn quét của địch.

“Tôi còn nhớ như in những trận càn của bọn chúng. Do mật thám báo mà chúng kéo hàng trăm lính với vũ khí hạng nặng, xe, súng ống vào làng càn quét lực lượng cách mạng. Chúng đến lùng sục từng nhà để bắt cho bằng được cán bộ. Cũng có nhiều chiến sĩ bị bắt nhưng hầu hết các trận càn của chúng đều rơi vào ngõ cụt” - cụ Huỳnh Văn Trưng (76 tuổi), một du kích đào hầm nuôi cán bộ thời đó, kể về thời kỳ gian khổ mà nhân dân Đá Mặn trải qua. Cụ Trưng là du kích, bị địch bắt và kết án tử hình khi vận chuyển vũ khí, lương thực qua sông để tiến đánh sân bay Nước Mặn. Sau ba năm ngồi nhà lim, chuồng cọp, cụ đã trốn thoát ra ngoài, bắt liên lạc với cấp trên, tiếp tục hoạt động cách mạng.

Nuôi quân dưới lòng đất

Năm 1968, đồng chí Đặng Hồng Vân, Quân ủy Quận III đã thiết kế cho người dân mô hình đào hầm bí mật, tạo thành một hệ thống hầm chằng chịt trong làng để nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong thời gian này, Đá Mặn đã làm nên một trận địa cách mạng ngay trong lòng đất.

Hàng trăm hộ dân tích cực ngày đêm đào hầm, tạo thành một hệ thống chặt chẽ làm cho kẻ địch không tài nào phát hiện dù chúng đã mở rất nhiều đợt truy quét trong làng để tiêu diệt lực lượng nòng cốt. Thời kỳ này nhân dân Đá Mặn đã đào được 158 căn hầm bí mật. Mỗi hầm như vậy nuôi bốn đến năm cán bộ cách mạng. Hầm được nhân dân đào khắp nơi, trong nhà, dưới giường ngủ, ngoài vườn, ngoài hiên..., tạo thành một thành lũy vững chắc.

Cô Huỳnh Thị Thơ, nữ biệt động thành lúc đó kể: “Ban ngày là những người dân bình thường với các công việc thường nhật. Nhưng đêm xuống thì tất cả đều là du kích. Nhà nào cũng tham gia đánh địch, buộc chúng phải run sợ trước vùng đất thép chỉ rộng khoảng 3 km này”.

Nằm sát bên sông Cổ Cò là địa điểm trọng yếu cả của ta và địch nên Đá Mặn được xem là bàn đạp để tấn công địch. Bộ đội muốn tập kết vũ khí, lực lượng, tiến đánh sân bay Nước Mặn của địch cần phải tiếp cận với làng. Biết điều đó nên địch đã không ngừng tăng cường lực lượng, mở nhiều trận càn nhằm cô lập làng. Thế nhưng chúng không thể ngờ làng đã có một hệ thống địa đạo nuôi giấu bộ đội ngay dưới lòng đất, ngày đêm âm thầm chờ thời cơ giải phóng thành phố.

Các căn hầm được nhân dân làm rất công phu. Miệng hầm và lối đi vào rất hẹp nhưng bên trong lại rộng đủ để cán bộ cách mạng sinh hoạt hằng ngày. Ngoài miệng hầm chính còn được làm thêm miệng hầm giả. Nếu có tay sai chỉ điểm, nhân dân sẽ đập vỡ miệng hầm giả làm gạch, đá rơi xuống bịt miệng hầm chính, vừa đánh lừa địch vừa báo hiệu cho bộ đội trốn thoát ra ngoài.

Đằng sau những căn hầm là bao kỷ niệm, là những dấu vết của một thời đồng cam cộng khổ giữa quân với dân. Một thời máu lửa mà đến bây giờ khi kể lại, mẹ Hải, bác Trưng, chị Thơ vẫn còn rưng rưng nước mắt. Dường như với các mẹ, các bác, những ngày tháng đào hầm nuôi cán bộ mới chỉ diễn ra hôm qua thôi. “Nhà mẹ nuôi bốn đứa tuổi đời rất trẻ. Mẹ đã xem chúng nó như những người con trong gia đình. Khi nghe tin thằng Sinh bị địch bắt rồi tử hình, mẹ như đứt từng khúc ruột dù nó không phải do mình dứt ruột đẻ ra” - mẹ Hải nghẹn lời khi nhắc đến liệt sĩ Nguyễn Sinh, một cán bộ được mẹ nuôi dưỡng.

LÊ PHI

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới