Tự nguyện nhận con và không hề bị tranh chấp nhưng chị P.T.A (ngụ quận 2, TP.HCM) không thể nộp hồ sơ tại UBND phường nơi cư trú như những trường hợp khác.
Tháng 9-2005, chị A. lấy anh N. và có một con chung. Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ cho đến khi em gái của chị A. đi đăng ký kết hôn mà theo đương sự là lần thứ nhất. Thế nhưng viện lẽ người em này từng đăng ký kết hôn và nay vẫn chưa ly hôn nên UBND phường đã từ chối giải quyết hồ sơ.
Thì ra vào năm 2004, chị A. đã dùng chứng minh nhân dân của người em để đăng ký kết hôn với anh N. Theo đó, trên các giấy tờ hộ tịch liên quan, người em của chị A. là vợ hợp pháp của anh N. và con của chị A. với anh N. là con chung giữa người em với anh N.
Để cho người em vợ đi lấy chồng, anh N. làm đơn xin ly hôn người em và đã được TAND quận 2 giải quyết. Tuy nhiên, thay vì nêu ra sự thật về đứa trẻ để được tòa án xử lý luôn thể thì cả hai lại im re. Giờ chưa biết tính sao để có thể đường hoàng nhận con đẻ của mình, chị A. đã mang hồ sơ đến Sở Tư pháp TP.HCM cầu cứu.
Ông Huỳnh Tấn Đạt, Phó Trưởng phòng Hộ tịch-Quốc tịch-Lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp TP.HCM, giải thích: Theo Điều 32 Nghị định 158 ngày 27-12-2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch, việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện nếu bên nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con. Việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký là UBND cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con.
Tuy nhiên, ở trường hợp cụ thể của chị A., do người em và anh N. đã có bản án xử ly hôn của tòa mà theo bản án này thì đứa trẻ là con chung của hai người nên nay UBND phường (nơi cư trú của chị A.) không thể đăng ký việc nhận mẹ cho con như những trường hợp bình thường khác. Bởi lẽ nếu đăng ký thì quyết định hành chính của UBND phường sẽ bị chỏi với án tòa.
Căn cứ vào Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự (quy định những tranh chấp về hôn nhân và gia đình như tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án), chị A. có thể nộp đơn khởi kiện để được tòa án xác định ai là mẹ đẻ của trẻ.
Không còn cách nào khác, chị A. đã nộp đơn tranh chấp quyền làm mẹ với người em. Hiện vụ việc đang được TAND quận 2 thụ lý.
| Thêm một trường hợp tương tự Tại quận Cái Răng, TP Cần Thơ cũng có một trường hợp dùng chứng minh nhân dân của người thân đi đăng ký kết hôn và sau đó gặp rắc rối. Năm 1999, anh P. đã dùng chứng minh nhân dân của em trai làm thủ tục đăng ký kết hôn với chị L. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân. Năm 2006, chị L. nộp đơn xin ly hôn chồng - tất nhiên là em anh P. (!). Trước đó, người em của anh P. cũng đã cưới người khác. Tháng 7-2007, sau khi phát hiện người em đã có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, UBND phường đã ra quyết định xử phạt hành chính người em. Để đâu đó rõ ràng, người em cũng đã nộp đơn xin ly hôn chị L. (tức chị dâu). Đầu tháng 12-2008, TAND quận Cái Răng đã tuyên xử cho hai đương sự ly hôn, tạo thuận lợi cho việc kết hôn tới đây của người em. |
TIẾN HIỂU