Ở nước ta, án lệ đã và đang tồn tại dưới các hình thức như các nghị quyết hướng dẫn xét xử, trao đổi nghiệp vụ tại các buổi tổng kết ngành và dễ thấy nhất là thông qua các quyết định giám đốc thẩm được tập hợp và phát hành. Qua đây, nhiều vướng mắc đã được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao gỡ vướng và định hướng cho các tòa cấp dưới làm theo.
Sao cho thấu lý đạt tình
Năm 2006, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao có quyết định giám đốc thẩm một vụ tranh chấp dân sự về lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian giữa ông T. với bà K. Sau này, nhiều tòa cấp dưới đã ngầm coi đây là một án lệ và xử theo đường lối của bản án này.
Số là bà K. đã lấn chiếm đất thuộc quyền sử dụng của ông T. Khi bà K. xây nhà, bà đã làm kiềng trên móng nhà của ông T. nhưng ông T. không phản đối trong suốt thời gian từ khi khởi công cho đến lúc hoàn thành (bốn tháng). Do nhà bà K. là nhà cao tầng, đã xây dựng hoàn thiện, giờ nếu buộc bà phải dỡ bỏ và thu hẹp lại công trình thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho bà.
Xử vụ này, tòa cấp phúc thẩm đã không buộc bà K. phải tháo dỡ phần tường nhà đè lên phía trên móng nhà ông T. mà chỉ buộc bà bồi thường bằng tiền. Trong quyết định giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán cho rằng tuyên xử như thế là hợp tình hợp lý. Sau này khi gặp vụ án tương tự, các thẩm phán đều “liên tưởng” đến vụ này và tuy không nói ra nhưng ai cũng vận dụng đường lối thấu lý đạt tình đó để xét xử.
Có điều, nội dung hướng dẫn trong “án lệ” nói trên chỉ thể hiện hướng giải quyết trong vụ việc cụ thể giữa ông T. và bà K. nên nó còn thiếu tính khái quát pháp lý. Sẽ là thuyết phục nếu trong quyết định có một đoạn có nội dung giống như một điều luật (không đề cập tới một chủ thể cụ thể như ông A, bà B) để các tòa cấp dưới áp dụng theo. Khi đó quyết định trên có thể được coi là một án lệ mẫu mực.

Ngoài nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, tòa án các cấp ở nước ta còn tham khảo và vận dụng đường lối trong các quyết định giám đốc thẩm khi xét xử.Ảnh minh họa: HTD
Một chuyện khác, Bộ luật Dân sự (BLDS) nước ta quy định nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người thân của người có tính mạng bị xâm phạm là cho đến khi chết nếu người được hưởng cấp dưỡng là người đã thành niên và cho đến khi đủ 18 tuổi nếu người được hưởng cấp dưỡng là người chưa thành niên hay đã thành thai. Tuy nhiên, BLDS lại không cho biết nghĩa vụ này bắt đầu vào thời điểm nào nên các tòa rất lúng túng. Sau đó, một quyết định giám đốc thẩm của TAND Tối cao phân tích: Theo tinh thần quy định tại Điều 616 BLDS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì trong trường hợp cụ thể này, thời điểm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng phải được tính từ ngày người bị hại chết.
Dù không nói ra nhưng đây được coi là “hướng dẫn” để các tòa án áp dụng khi xét xử và xét ở góc độ khoa học, rõ ràng nó như một án lệ.
Gỡ vướng vấn đề pháp lý mới
Trước đây người ta tranh luận nhiều về vấn đề giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận sở hữu nhà ở có phải là tài sản không. Để giải quyết vấn đề này, tại quyết định giám đốc thẩm vào tháng 4-2011, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao quyết: Pháp luật không xác định hai loại giấy trên là loại giấy tờ có giá, nên theo quy định tại Điều 163 BLDS thì nó không phải là tài sản và không được phép giao dịch, trao đổi. Sau đó, “án lệ” này đã được Tòa Dân sự TAND Tối cao “áp dụng” theo trong một vụ việc khác.
Tương tự, Điều 679 BLDS quy định con riêng và bố dượng/mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con/mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau. Nhưng đối chiếu với Điều 776 BLDS thì không biết người con riêng này được đứng ở đâu trong ba hàng thừa kế (trong trường hợp thừa kế theo pháp luật). Thực trạng này làm phát sinh những quan điểm trái chiều nhau. Trong một quyết định giám đốc thẩm (năm 2009), Tòa Dân sự TAND Tối cao đã lập luận: Con riêng của vợ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng với bố dượng nên người con này được coi như con ruột của ông bố dượng, tức được đứng vào hàng thừa kế thứ nhất (của bố dượng). Đây được coi là một án lệ vì sau đó các tòa án địa phương đều xét xử theo hướng này.
* * *
Thực tiễn cho thấy có rất nhiều vấn đề pháp lý phát sinh cần phải giải quyết nhưng không phải lúc nào văn bản pháp luật cũng điều chỉnh kịp thời. Trong những tình huống này, sự xuất hiện của án lệ là cần thiết để tạo sự an tâm cho người dân, giúp tòa án áp dụng pháp luật thống nhất.
| Thời xưa nước ta đã có án lệ Trong kỹ thuật lập pháp của người xưa, bên cạnh các bộ luật chính thức, Nhà nước còn ban hành các “lệ” hay “lệnh” để hướng dẫn đường lối xét xử khi luật còn thiếu sót, chưa quy định đủ mọi góc cạnh chi tiết hoặc có quy định mà chưa rõ. Các triều đại quân chủ Việt Nam thường áp dụng cách làm này. Thí dụ, dưới thời nhà Lê, niên hiệu Hồng Đức, vua Lê Thánh Tông đã tận dụng kỹ thuật “làm cho pháp luật đầy đủ, dễ hiểu” bằng cách ghi tóm lược lại những bản án đã được các quan xử án rồi, chọn ra làm tiền lệ điển hình để về sau cứ noi theo đó mà xử các trường hợp tương tự. Cụ thể như trong Bộ luật Hồng Đức, các Điều 396, 397 về việc phân chia điền sản hương hỏa thực chất là những bản án được tóm lược lại, chép kèm vào bộ luật. Hồng Đức thiện chính thư (cũng là bộ luật khá nổi tiếng của nhà Lê) đã ghi tóm lược lại nhiều bản án. Xin chép lại nguyên văn một bản án đã được ban bố ngày 20-4 năm Hồng Đức thứ bảy (1476), có tựa là “Không chồng mà có chửa”: Ngày nọ có cô con gái đóng cửa kén chồng. Cô ta mới lớn, xuân tình phát triển, một hôm gặp anh học trò muốn kết thành vợ chồng mà không dám tỏ tình. Khi đó có người hàng xóm nghèo khổ, cô ta trong bụng không ưng nhưng tình dục khó át đi, bèn thông dâm với người đó, dẫn đến có thai. Cha mẹ cô ta biết chuyện bèn tra hỏi cô. Cô ta thấy việc không thể giấu, đành kể thực tình. Cha mẹ cô ta tức giận vì thấy người kia nghèo khổ bèn vu cho anh học trò và phát đơn kiện. Người học trò đó khai rằng: Không hề có chuyện đó, chính là cô ta thông dâm với người hàng xóm nghèo khổ, xin bắt anh ta đến để đối chất. Quan khám án căn cứ vào luật phân xử rằng: Việc người con gái thông dâm xảy ra nơi kín đáo, lại không khám nghiệm được, khó mà có bằng cớ, ý muốn nói là không có bằng cớ để xử theo pháp luật. (…) Nay thần - Lương Thế Vinh - xét trong luật nhà Minh có nói rằng: Xét về tình không có dấu tích nên dễ vu oan, nếu không bắt được quả tang thì việc đó không có bằng cớ và chỉ là lời khai người nào đó thông dâm với mình. Nếu lời khai không có bằng chứng thì đều không xét tội. Gian phụ có thai thì ở phía gian phụ là có bằng chứng, mà ở phía nam phu lại không có bằng chứng, chỉ có thể xử gian phụ cái tội thông gian… Căn cứ vào những điều đó, kính cẩn tâu xin ban bố điều lệ để thi hành”. (Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam từ thế kỷ XV đến XVIII, NXB Khoa học xã hội, 2006, lệ 8, trang 474-475). Đầu thế kỷ XIX, ở nước ta, trong Bộ luật Gia Long cũng có nhiều điều lệ (án lệ) được chép kèm theo các điều luật nên mới có tên chính thức là Hoàng Việt luật lệ. Việc dùng bản án đã xử trước làm tiền lệ để xét xử các vụ việc xảy ra sau quả là một kỹ thuật lập pháp hay. Các bản án này do các phán quan vận dụng kiến thức pháp luật của mình vào tình huống thực tế để xét xử, qua đó đưa ra đường lối xử lý chung, bổ sung vào những ngóc ngách pháp lý mà pháp luật dù hoàn hảo thế mấy cũng không sao đủ được. Đó là truyền thống xử lý các tranh chấp của người phương Đông vốn có từ ngàn xưa. Án lệ quả là một thứ “luật” đắc dụng. Nó không phải chỉ riêng các nước phương Tây mới có mà nó là kỹ thuật pháp lý chung, thành quả khoa học pháp lý tiến bộ của loài người. Luật sư TRƯƠNG THỊ HÒA |
PGS-TS ĐỖ VĂN ĐẠI (*)