Siết điều kiện đăng ký cư trú cho người chưa thành niên

(PLO)- Nghị định 58/2026 thu hẹp ưu tiên đăng ký cư trú cho người chưa thành niên và siết quy trình xóa thường trú, tạm trú theo hướng số hóa, chặt chẽ hơn.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; quản lý và sử dụng con dấu; quản lý, sử dụng pháo; quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú, Luật Căn cước

Trong đó, những thay đổi liên quan đến đăng ký cư trú cho người chưa thành niên và thủ tục xóa đăng ký thường trú, tạm trú được xem là các điểm đáng chú ý, tác động trực tiếp đến người dân khi thực hiện thủ tục cư trú.

Đăng ký cư trú cho người chưa thành niên.jpeg
Nghị định 58/2026 có hiệu lực từ ngày 15-3-2026; riêng quy định về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên được áp dụng từ ngày 1-7-2026. Ảnh: HUỲNH THƠ

Đăng ký cư trú cho người chưa thành niên

Nghị định số 58/2026 sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định số 154/2024 về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên.

Theo Nghị định 154/2024, các cơ chế ưu tiên về đăng ký cư trú được áp dụng chung cho toàn bộ người chưa thành niên (dưới 18 tuổi). Trong đó, nếu cha, mẹ có nơi thường trú nhưng không phải nơi đang thực tế sinh sống thì người chưa thành niên vẫn được đăng ký thường trú tại nơi thường trú của cha, mẹ. Đồng thời, khi đăng ký thường trú, tạm trú lần đầu cho người chưa thành niên, cơ quan đăng ký cư trú không phải kiểm tra, xác minh điều kiện về tính hợp pháp của chỗ ở và tình trạng cư trú.

Tuy nhiên, theo Nghị định 58/2026, chính sách này chỉ còn áp dụng đối với người dưới 6 tuổi. Cụ thể, chỉ trẻ dưới 6 tuổi mới được đăng ký thường trú tại nơi thường trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ trong trường hợp nơi thường trú không trùng với nơi đang sinh sống thực tế. Như vậy, nhóm từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ không còn đương nhiên được hưởng cơ chế này mà phải đáp ứng đầy đủ điều kiện đăng ký cư trú theo quy định chung.

Một điểm thay đổi quan trọng khác nằm ở quy định về miễn kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký cư trú. Hiện nay, việc miễn kiểm tra được áp dụng cho toàn bộ người chưa thành niên khi đăng ký lần đầu. Điều này tạo thuận lợi đáng kể cho gia đình khi thực hiện thủ tục cho trẻ.

Quy định mới đã thu hẹp phạm vi miễn kiểm tra, chỉ áp dụng đối với người dưới 6 tuổi đăng ký thường trú hoặc tạm trú tại nơi cư trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ theo khoản 2 Điều 7 Nghị định số 154/2024. Điều này đồng nghĩa với việc nhóm trẻ từ 6 tuổi trở lên khi đăng ký cư trú có thể phải trải qua quy trình xác minh điều kiện chỗ ở và các tiêu chí liên quan.

So với quy định hiện hành, nội dung quy định mới sửa đổi thể hiện rõ hơn vai trò của người giám hộ trong việc đăng ký cư trú. Ở một số tình huống, ngoài cha, mẹ, người giám hộ cũng được xác định là chủ thể có quyền và trách nhiệm thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào tờ khai thay đổi thông tin cư trú, đặc biệt liên quan đến trẻ dưới 6 tuổi.

Bên cạnh đó, các nội dung khác vẫn được giữ nguyên như: thời hạn tối đa 60 ngày kể từ ngày đăng ký khai sinh để thực hiện thủ tục cư trú; trách nhiệm của cha, mẹ, chủ hộ hoặc người giám hộ; và trường hợp cha, mẹ không có nơi thường trú, tạm trú thì thực hiện khai báo theo Điều 4 của nghị định (nơi cư trú của người không có nơi thường trú, nơi tạm trú).

Hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú, tạm trú

Nghị định 58/2026 cũng sửa đổi, bổ sung Điều 9, Điều 10 Nghị định 154/2024 về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú, tạm trú.

Điểm mới đáng chú ý đầu tiên là bổ sung cơ chế xử lý ngay sau khi có quyết định hủy bỏ đăng ký cư trú. Cả đối với thường trú và tạm trú, trong thời hạn 1 ngày kể từ khi nhận quyết định hủy bỏ của thủ trưởng cấp trên hoặc ngay sau khi ra quyết định hủy bỏ, cơ quan đăng ký cư trú phải thực hiện xóa đăng ký thường trú, tạm trú và cập nhật vào cơ sở dữ liệu. Quy định này không được tách bạch, cụ thể như vậy trong Nghị định 154/2024.

Thứ hai, nghị định mới làm rõ và phân nhóm các trường hợp bị xóa đăng ký thường trú, tạm trú theo từng điểm của Điều 24, Điều 29 Luật Cư trú, đồng thời quy định rõ thời hạn xử lý 1 ngày làm việc khi hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tiếp nhận thông tin phản ánh. So với quy định hiện nay, nội dung này được cấu trúc lại chặt chẽ hơn, viện dẫn cụ thể từng nhóm trường hợp thay vì quy định chung.

Thứ ba, về trách nhiệm trách nhiệm thực hiện thủ tục, Nghị định 58/2026 vẫn giữ thời hạn 7 ngày để thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú, tạm trú nhưng diễn đạt rõ hơn chủ thể có trách nhiệm, bao gồm người thuộc diện xóa, đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện theo pháp luật. Quy định hiện nay chỉ nêu người thuộc diện xóa hoặc đại diện hộ gia đình.

Thứ tư, thay đổi đáng chú ý về phương thức nộp hồ sơ. Nếu Nghị định 154/2024 cho phép nộp hồ sơ trực tuyến, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích, thì Nghị định 58/2026 quy định nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID). Điều này cho thấy xu hướng đẩy mạnh số hóa, thu hẹp phương thức nộp hồ sơ truyền thống.

Thứ năm, nghị định mới làm rõ hơn cơ chế xử lý khi công dân hoặc đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục. Trường hợp hộ chỉ có một người hoặc đại diện không thực hiện, cơ quan đăng ký cư trú phải kiểm tra, xác minh, lập biên bản và chủ động xóa đăng ký thường trú, tạm trú. Quy định hiện nay cũng cho phép cơ quan cư trú thực hiện việc này, nhưng chưa phân định cụ thể trường hợp hộ chỉ có một người.

Ngoài ra, đối với lực lượng vũ trang, quy định mới yêu cầu văn bản đề nghị xóa cư trú chỉ sử dụng số định danh cá nhân, bỏ quy định về chứng minh nhân dân 9 số như hiện nay.

Các nội dung về thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết (5 ngày làm việc đối với thường trú, 3 ngày đối với tạm trú) và trách nhiệm thông báo kết quả cơ bản được giữ nguyên.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm