Lãi suất thấp, thanh khoản dồi dào liệu có quay trở lại trong ngắn hạn?

(PLO)- Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, kỷ nguyên tiền rẻ với mặt bằng lãi suất thấp kỷ lục khó có thể sớm quay trở lại trong ngắn hạn.

Mặt bằng lãi suất vẫn chịu nhiều sức ép từ các biến động toàn cầu khiến câu chuyện tiền rẻ khó thiết lập trong giai đoạn này. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc dòng vốn đối với doanh nghiệp bị bóp nghẹt.

Sức ép

Theo giới phân tích, tiền trên thị trường không còn rẻ vì tình trạng khan hiếm thanh khoản trên toàn cầu đang ngày càng trầm trọng do sự đồng thuận mạnh lên của đồng USD và chi phí năng lượng leo thang. Nhu cầu tích lũy ngoại tệ lớn để phục vụ các giao dịch trong lĩnh vực năng lượng gần như đã hấp thụ toàn bộ lượng thanh khoản dồi dào trên thị trường.

Bên cạnh đó, các dấu hiệu đảo chiều vĩ mô toàn cầu đang gia tăng rõ rệt dưới tác động từ rủi ro địa chính trị phức tạp tại khu vực Trung Đông. Lạm phát quay trở lại khiến nguy cơ các ngân hàng trung ương phải tăng lãi suất ngày càng hiện hữu.

Bối cảnh này phần nào lặp lại kịch bản hồi đầu năm 2025 khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) bắt đầu chu kỳ tăng lãi suất. Cục diện đó sẽ kích hoạt làn sóng dịch chuyển vốn dòng vốn đầu tư quốc tế sẽ tiếp tục rút khỏi các thị trường mới nổi để chảy ngược về Mỹ, hoặc dịch chuyển sang các quốc gia có khả năng duy trì tăng trưởng nhờ làn sóng công nghệ AI và những nơi đang sở hữu nền lãi suất trái phiếu hấp dẫn. Xét về mặt kỹ thuật, môi trường lãi suất cao chắc chắn sẽ gây áp lực lên tiền đồng lúc này.

Đánh giá về việc khó có tiền rẻ trong giai đoạn này, Tiến sĩ Quách Mạnh Hào, Giảng viên Đại học Lincoln (Anh) nhận định lạm phát trong nước phức tạp hơn nhiều vì nó không chỉ phụ thuộc vào biến động giá dầu thế giới, mà còn bị chi phối lớn bởi độ trễ của chính sách nới lỏng tiền tệ từ các năm trước. Thị trường cần thấy một sự xoay trục rõ ràng của lạm phát, trước mắt là việc chỉ số này không tiếp tục leo thang trong dữ liệu tháng 6. Nếu lạm phát vẫn duy trì xu hướng tăng, cơ hội để Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đảo chiều chính sách tiền tệ sang hướng nới lỏng là rất thấp.

Trong giai đoạn hiện nay, trước bối cảnh vĩ mô toàn cầu diễn biến phức tạp, một chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ khó có thể diễn ra như chu kỳ trước. Ảnh: PM

Bà Nguyễn Thị Phương Lam, Giám đốc phân tích Công ty chứng khoán Rồng Việt (VDSC) đánh giá xung đột địa chính trị bùng nổ tại khu vực Trung Đông đã kích hoạt làn sóng lạm phát toàn cầu quay trở lại, buộc các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới phải đảo chiều sang thế phòng thủ và thận trọng hơn. Hệ quả là, bức tranh điều hành chính sách tiền tệ trong nước cũng đối mặt với nhiều thách thức, khi dư địa hành động của Việt Nam bị thu hẹp đáng kể so với những kỳ vọng lạc quan hồi đầu năm.

Mặc dù vậy, có một thực tế phải ghi nhận là NHNN từ đầu năm đến nay đã thực hiện rất tốt vai trò điều tiết, giữ vững mục tiêu ổn định môi trường vĩ mô để làm bệ đỡ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Điểm sáng lớn nhất trong bức tranh này chính là sự ổn định của mặt bằng tỷ giá. Điểm tích cực đáng chú ý là tỉ giá trên thị trường tự do đã được kéo về mức rất sát và tiệm cận với tỉ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại, không còn hiện tượng chênh lệch lớn gây đầu cơ như trước.

Tuy nhiên, để đổi lấy sự bình yên này của tỉ giá, nền kinh tế bắt buộc phải chấp nhận một sự đánh đổi về mặt chi phí. Đó là việc duy trì một nền lãi suất tương đối cao hơn so với các năm trước. Nhà điều hành đang phải liên tục duy trì một khoảng cách chênh lệch lãi suất đủ an toàn giữa tiền đồng và USD. Đây là công cụ kỹ thuật bắt buộc ở thời điểm hiện tại nhằm giữ tính hấp dẫn cho tiền đồng, từ đó neo giữ dòng vốn ngoại ở lại thị trường và hạ nhiệt áp lực lên tỉ giá.

Những điều chỉnh

Những động thái điều chỉnh kỹ thuật và tái cấu trúc chỉ tiêu an toàn của NHNN gần đây đang phát đi một tín hiệu khi nhà điều hành đang nỗ lực tối ưu hóa cấu trúc hệ thống, tạo không gian để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với chi phí sử dụng vốn hợp lý và thực chất hơn.

Tiến sĩ Quách Mạnh Hào cũng cho rằng nhìn vào diễn biến thị trường thời gian qua, dù tỉ giá không bùng nổ vượt đỉnh nhưng liên tục neo ở vùng giá cao. Việc NHNN liên tục điều chỉnh tăng tỉ giá trung tâm là minh chứng rõ nét cho thấy áp lực tỉ giá vẫn rất căng thẳng.

Trong các biến số vĩ mô cốt lõi này, lạm phát hiện được đặt lên bàn cân với trọng số cao hơn tỉ giá. Với bối cảnh hiện tại, NHNN nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì vị thế thận trọng và chờ đợi để thu thập thêm dữ liệu, thay vì sớm đưa ra các biện pháp kích thích hay thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ.

“Thị trường chuẩn bị đón nhận một thông tin đáng chú ý khi Thông tư 25/2026 cho phép nâng tỷ lệ tối đa dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ mức 30% lên 40%. Đây thuần túy là một biện pháp nới lỏng mang tính kỹ thuật, không phải là sự xoay trục của cả một chu kỳ chính sách tiền tệ. Bản chất của nó giống như việc thay đổi vị trí đặt máy bơm hoặc tăng công suất cục bộ tại một góc hồ, trong khi tổng lượng nước (tổng cung tiền) muốn bơm vào hồ vẫn không thay đổi. Xu hướng chính sách tổng thể vẫn là thắt chặt và thận trọng.

Về mặt lý thuyết, việc nới lỏng chỉ tiêu này giải phóng dư địa cho các ngân hàng thương mại cấp các khoản tín dụng dài hạn. Bên cạnh các mảng truyền thống như cho vay hạ tầng hay dự án lớn của doanh nghiệp vốn đã có cơ chế riêng, dòng vốn giải tỏa này được dự báo sẽ hướng tới phân khúc bất động sản, đặc biệt là cho vay mua nhà”, Tiến sĩ Quách Mạnh Hào nhận định.

Sự linh hoạt trong điều hành của cơ quan quản lý là điểm tựa quan trọng giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn, khơi thông năng lực sản xuất kinh doanh nhằm đóng góp thực chất vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế quốc gia. Ảnh: PM

Theo bà Nguyễn Thị Phương Lam, nhà điều hành cũng cho thấy những bước đi linh hoạt trong việc tháo gỡ dòng vốn. Cụ thể là chính sách phân loại lại nhóm nợ đối với các doanh nghiệp bất động sản. Theo đó, thay vì đánh đồng như trước, cơ chế mới đã tách bạch các dự án bất động sản có dòng tiền thu nhập đều hoặc phục vụ mục đích an sinh, ra khỏi các phân khúc đầu cơ khác để áp dụng cách tính riêng. Đây là một sự điều chỉnh chính sách rất hợp lý và thực tế nhằm hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Liên quan đến câu chuyện vốn, một điểm đáng lưu ý là việc NHNN đã hạ mục tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng từ mức 19% của năm 2025 xuống còn 15% trong năm 2026. Tuy nhiên, nếu tính toán kỹ dựa trên thực tế phê duyệt cơ chế đặc thù vừa qua, con số này có sự khác biệt lớn.

Khi cộng thêm tổng nhu cầu vốn huy động của 18 đại dự án thuộc nhóm hạ tầng trọng điểm quốc gia do các tập đoàn tư nhân triển khai vốn đã được chấp thuận loại trừ khỏi cách tính room thì mức tăng trưởng tín dụng thực tế của năm nay dự kiến sẽ đẩy lên khoảng 19%. Nói cách khác, lượng vốn thực tế được bơm ra nền kinh tế vẫn sẽ tương đương với mức đỉnh của năm ngoái, phản ánh một chính sách hỗ trợ tăng trưởng rất mạnh mẽ ẩn sau mục tiêu danh nghĩa 15%.

Các chuyên gia phân tích Công ty chứng khoán KBSV nhận định NHNN đang chủ động nâng tỉ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40%. Đồng thời, cơ quan này cho phép tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào tỉ lệ LDR theo Thông tư 25/2026. Ngoài ra, không loại trừ khả năng NHNN sẽ có thêm các chính sách hỗ trợ để bổ sung nguồn vốn cho vay các dự án này.

Do đó, mặt bằng lãi suất huy động sẽ ổn định ở vùng hiện tại. Thậm chí, lãi suất có thể bắt đầu xu hướng giảm trong quý III-2026 nếu huy động của toàn hệ thống ngân hàng cải thiện và giải ngân đầu tư công tăng mạnh.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới