ẨN HỌA TỪ THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM - BÀI 2

Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi

Mặc dù hiệu quả của những loại thuốc trầm cảm tới đâu vẫn chưa ai trả lời được nhưng với hơn 10% dân Mỹ trên 12 tuổi sử dụng, các nhà sản xuất thuốc cứ vô tư hốt bạc.

Trong lịch sử dược phẩm ở Mỹ, có một số loại thuốc được con người hân hoan chào đón, chẳng hạn như những viên nửa xanh (lá cây) nửa trắng chứa 20 mg hydrochloride fluoxetine - có tên gọi là Prozac - một loại thuốc chống suy nhược thần kinh.

Trong cuốn sách có nhan đề Đất nước của thuốc Prozac được xuất bản năm 1994, tác giả Elizabeth Wurtzel kể trước khi điều trị bằng thuốc chống trầm cảm, bà luôn trôi miên man trong những cơn mơ tưởng tự tử. Nhưng chỉ một vài tuần sau khi dùng Prozac, bà cảm thấy tình trạng của mình đã được thay đổi. “Một buổi sáng tôi thức dậy và thực sự muốn sống, như thể hơi độc của sự trầm cảm đã bay khỏi người tôi”.

Tác dụng mơ hồ

Thế nhưng nhà tâm lý học Irving Kirsch (Trường Y khoa Harvard) khẳng định rằng thuốc chống trầm cảm không hơn gì những viên thuốc đường và nhìn chung hiệu quả lâm sàng của chúng là rất thấp. 

Vấn đề đặt ra là những loại thuốc này có ảnh hưởng như thế nào? Tế bào thần kinh - các neuron - “nói chuyện” với nhau thông qua các tín hiệu chất được gọi là chất dẫn truyền thần kinh, loại chất tồn tại ở nhiều dạng như serotonin, dopamine và norepinephrine. Mấy mươi năm qua, một lý thuyết trung tâm trong ngành tâm thần học cho rằng các loại thuốc chống trầm cảm có tác dụng làm tăng lượng serotonin trong não. Trong não của người bị trầm cảm, vì lý do nào đó, serotonin bị suy yếu do sự mất cân bằng về chất dẫn truyền thần kinh. Ngư?i ta cho r?ng ời ta cho rằng Prozac và Paxil (loại thuốc chống trầm cảm khác) làm tăng nồng độ serotonin, qua đó tăng cường tín hiệu giữa các tế bào thần kinh.

Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi ảnh 1

Sống vui là một trong những cách phòng, chống trầm cảm. Ảnh: alobacsi.vn

Quan niệm hiện đại của giới khoa học Mỹ về trầm cảm là do hậu quả của một sự “mất cân bằng hóa học” của các chất dẫn truyền thần kinh trong não. Trong một bộ não bình thường, chất serotonin qua lại như con thoi giữa các tế bào thần kinh để duy trì tâm trạng. Trong bộ não của người bị trầm cảm, tín hiệu này đã bị sai lạc thế nào đó. 

Sự xác quyết đối với lý thuyết này xuất hiện từ việc khám phá ra các loại thuốc mới có tác dụng làm tăng nồng độ serotonin. Loại thuốc đầu tiên, Zimelidine, được tạo ra bởi một nhà nghiên cứu người Thụy Điển tên là Arvid Carlsson. Dưới sự chủ trì của ông Carlsson, các nhà hóa học dược phẩm đã bỏ tiền của sản suất thuốc Prozac (năm 1974), Paxil (năm 1975) và Zoloft (năm 1977). Từ đó, dưới tác dụng của quảng cáo và sự kê toa của bác sĩ (như đã nói ở bài 1), người Mỹ đón nhận chúng một cách rầm rộ. Và mặc dù hiệu quả của những loại thuốc này tới đâu vẫn chưa ai trả lời được nhưng với hơn 10% dân Mỹ trên 12 tuổi sử dụng, các nhà sản xuất thuốc cứ thế vô tư lượm tiền.

Khuếch đại như “thần dược”

Cuối những năm 1980, đã có các nghiên cứu kiểm tra hiệu quả của Prozac đối với các bệnh nhân trầm cảm. Một số thử nghiệm cho thấy Prozac làm giảm các triệu chứng của trầm cảm khi so sánh với thuốc trấn an. Trầm cảm thường được người ta xác định bằng cách sử dụng một hệ thống đánh giá có tính tiêu chuẩn các triệu chứng khác nhau. Nói chung, ở một số bệnh nhân, người ta quan sát được những dấu hiệu cải thiện có ý nghĩa về mặt lâm sàng, mặc dù các hiệu ứng thường nhỏ và không trường hợp nào giống trường hợp nào.

Trên thực tế, một số người sau khi dùng thuốc đã cảm thấy một số bớt đi sự lo âu, dỡ bỏ cảm giác tội lỗi hoặc kết thúc mong muốn tự tử. Nhưng đối với những bệnh nhân khác, những thay đổi này là không đáng kể. Nhưng quan trọng nhất là có đến 74% bệnh nhân cảm thấy tốt hơn nhiều hoặc rất nhiều sau khi uống thuốc chống trầm cảm.

Năm 1997, nhà tâm lý học Irving Kirsch bắt đầu xem xét hiệu lực của các loại thuốc trấn an có liên quan đến trầm cảm. Một phần, hiệu lực của thuốc trấn an có tác dụng vì chính tinh thần đã làm thay đổi nhận thức về tình trạng đau ốm hoặc khỏe mạnh. Nhưng ông Kirsch muốn biết hiệu lực của các loại thuốc điều trị bệnh trầm cảm mạnh đến mức nào. Để đo hiệu lực này, ông kết hợp 38 thử nghiệm, bao gồm trường hợp bệnh nhân được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm, thuốc trấn an hoặc không điều trị. Sau đó ông ứng dụng các luận điểm toán học để ước tính thuốc trấn an đã góp phần cải thiện tâm trạng bệnh nhân được bao nhiêu. 

Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi ảnh 2

Suy nghĩ kỹ trước khi sử dụng thuốc chống trầm cảm. Ảnh: webmd.com

Kết quả: Ông Kirsch và cộng sự phát hiện tác dụng của thuốc chống trầm cảm trong một số trường hợp có hiệu quả bằng không. Và nhà tâm lý học Irving Kirsch kết luận: Các công ty dược phẩm đã phóng đại những lợi ích của thuốc chống trầm cảm khiến không ít người lầm tưởng tác dụng của nó như “thần dược”.

Liệu pháp tinh thần

Kính thiên văn mách cho con người một hướng suy nghĩ mới về thiên văn học và vật lý. Kính hiển vi dẫn đến sự phát hiện ra tế bào. Nhưng để nhìn vào vũ trụ bí hiểm của tâm trạng và cảm xúc con người, quả thật chúng ta có quá ít thiết bị. 

Các nhà khoa học cho rằng chúng ta “phát triển nỗi buồn” nhưng hiếm khi chúng ta mô tả mình “phát triển niềm vui”. Để lại dấu ấn trong ngôn ngữ của chúng ta là cái bản năng cho thấy hạnh phúc là một trạng thái, trong khi đau buồn là một quá trình. Cũng vậy, trong ý nghĩa khoa học, giả thuyết hóa học về trầm cảm đã chuyển từ tĩnh sang động - từ “trạng thái” sang “quá trình”. Thuốc chống trầm cảm như Paxil hay Prozac rất có thể không có tác dụng khi gặp tín hiệu thụ động tăng cường. 

Trầm cảm là một căn bệnh đa dạng, phức tạp, với các nguyên nhân tiền đề và biểu hiện khác nhau. (Chứng trầm cảm ở phụ nữ sau khi sinh là một hội chứng khác biệt so với bệnh trầm cảm đang đề cập). Việc thử nghiệm lâm sàng cho thấy rõ ràng chỉ một phần nhỏ các bệnh nhân bị trầm cảm nặng “chịu” các loại thuốc chống trầm cảm theo nguyên lý tăng cường serotonin. Sự khác nhau trong phản ứng với thuốc cũng có thể là do sự thay đổi trong các phản ứng sinh học.

Chưa có lý thuyết nào giải thích tại sao những liệu pháp tâm lý dựa trên tư vấn có tác dụng ở những bệnh nhân này nhưng không có tác dụng ở bệnh nhân khác. Cũng chưa ai giải thích tại sao sự kết hợp giữa trò chuyện tư vấn với cho uống thuốc chống trầm cảm thì tác dụng tốt hơn so với chỉ sử dụng thuốc hoặc chỉ sử dụng biện pháp trò chuyện tư vấn.

Có lẽ bộ não của bạn làm cho bạn “hành động” chán nản và sau đó bạn “cảm thấy” chán nản. Hoặc bạn cảm thấy chán nản một phần bởi vì bộ não của bạn làm cho bạn hành động chán nản. Những suy nghĩ như thế này nhanh chóng vượt qua giới hạn của lĩnh vực tâm thần học và tiến đến một “cảnh giới” bất ngờ và đáng lo ngại hơn. Chúng có thể bắt đầu với sự rối loạn của tâm trạng, nhưng chúng nhanh chóng chuyển sang đặt câu hỏi về cái trật tự được tổ chức của bộ não.

Và như vậy liệu chúng ta cứ vô tư tọng thuốc chống trầm cảm vào người mỗi khi có vài biểu hiện mệt mỏi hay chán nản thì có cải thiện được tình hình? Thay vì thế, không ít nhà khoa học khuyên chúng ta nên biết tự điều tiết bản thân, sống cân bằng, hướng cái nhìn tích cực hơn về cuộc sống và thay đổi môi trường sống nếu có thể. Prozac, Paxil và Zoloft không bao giờ là những “thần dược” có thể triệt tiêu tâm trạng chán nản, tiêu cực của chúng ta, dù nó từng được quảng cáo rầm rộ hay được bác sĩ kê toa mỗi khi chúng ta lê thân đến phòng mạch.

Hy vọng con người sớm thấu suốt về trầm cảm và sẽ chế tạo ra những loại thuốc chống trầm cảm mới hiệu quả hơn. Nhưng bất kỳ phương pháp điều trị mới nào cũng đều mắc một món nợ trí tuệ sâu sắc về căn bệnh bí ẩn hay về tâm trạng và cảm xúc bí hiểm nhất của con người.

ĐẶNG NGỌC HÙNG tổng hợp (Theo abcnews.go.com, dailyherald.com, USA Today, NYT)

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm