1. Nhìn chúng tôi, có thể người ta sẽ nghĩ là hai cha con, một ông già ngoài bảy mươi, dáng đi đã có phần lọng cọng nhưng xăng xái; còn ông trẻ thì khoảng tuổi bốn mươi, dáng như thư sinh nhưng vẻ mặt rầu rầu. Ông già có vẻ thong dong của một người từng trải, còn ông trẻ lộ vẻ bồn chồn của một kẻ như lần đầu tiên bước chân lên tàu ra đảo.
Tất nhiên chúng tôi không phải là hai cha con. Ông già ngoài bảy mươi ấy là nhà văn Lê Văn Thảo, còn ông trẻ ấy là tôi. Và tôi cũng không phải là lần đầu tiên ra đảo nhưng những chuyến xa khơi còn ít ỏi, chẳng “thấm béo” gì so với thú đam mê xê dịch lúc nào cũng ắp tràn. Thế nhưng thật kỳ lạ, khi ngồi ở bến tàu chuẩn bị xa khơi, tôi có cảm giác nấn ná muốn lưu lại để ngắm những hàng cây chao mình trong gió, nghe câu chuyện rôm rả của cánh xe ôm. Đó là cảm giác lặp lại trên mỗi chuyến đi. Đi không có nghĩa là ào đi ào đến mà thong dong đi, từ từ đến. Và với tôi, một nơi nào đó mà chưa ngủ lại qua đêm thì đồng nghĩa với chưa đến.
Đêm trên hòn Củ Tron (quần đảo Nam Du, Kiên Giang) sẽ là một đêm buồn với những du khách đi tìm một thú vui ồn ào nào đó nhưng với chúng tôi, những người đi lẻ loi, thì đêm ngoài đảo rất tuyệt. Ngồi trong vùng ánh sáng tù mù của một quán cà phê, đốt một điếu thuốc, phả khói thật chậm như phả tất cả sự khoan khoái nhẹ nhàng. Thú vị nhất của những chuyến đi là được ngồi một mình lẫn trong đám đông nhưng không đến mức ồn ã quá để có thể ngắm từng mặt người, nghe những câu chuyện không đầu không cuối với những âm giọng địa phương. Những liên tưởng, mường tượng thường bắt đầu từ đó. Điều đó cũng lý giải vì sao mỗi khi bế tắc sáng tạo, người nghệ sĩ thường lên đường, còn nhà văn gọi là đi thực tế. Thực tế không chỉ tiếp cận con người với câu chuyện được kể, mà quan trọng hơn nó cung cấp cho ta những hình ảnh gợi ý và làm mới tâm trạng sống. Nếu như ai không kịp sống trong vùng chuyển tâm trạng đó thì khó viết được cái gì cho ra hồn. Sự gợi ý sáng tạo này, nói như Jonathan Weiner trong cuốn Mỏ chim sẻ đảo (The beak of the finch) thì nó giống như chỗ của sự hiểu biết: “Nó ẩn trong mắt mọi sinh vật; và khuất trong đàn chim trời”. Trên hòn Củ Tron, khuất dưới một tảng đá bên một giếng nước, người ta tìm thấy những dòng chữ khắc đề giếng của vua Gia Long. Tôi cứ nghĩ mãi về việc vua Gia Long (Nguyễn Ánh) khi bị nhà Tây Sơn đuổi đánh, trên đường bôn tẩu đến đâu cũng cho người tìm chỗ đào giếng nước ngọt. Trên đảo Lý Sơn, đảo Phú Quốc cũng có giếng nước của vua Gia Long. Tôi cứ nghĩ mãi chuyện giếng vua, để mỗi khi ra đảo, thả chiếc gàu xuống giếng là như nối sợi dây giữa quá khứ với hiện tại.

Bãi đá đỏ, hòn Củ Tron, nơi còn khá hoang sơ, ít người biết đến. Ảnh: TRẦN NHÃ THỤY
2. Đêm trên đảo. Lang thang ra tận đầu cầu cảng, ngạc nhiên thấy một toán mấy đứa trẻ tuổi khoảng năm đến mười đang đứng câu mực. Những chiếc cần câu ngắn ngủn, dây câu cột sơ sài nhưng những con mực ống hồng tươi thì rất tuyệt. Cứ chốc chốc bọn trẻ lại giật lên, thả con mực đáp nhẹ nhàng xuống nền xi măng cầu cảng. Con mực ống vừa được thả xuống liền xịt một vệt mực đen ngòm, có khi bắn vào chân mấy đứa trẻ. Bọn trẻ bật cười vui vẻ. Đêm ngoài đảo với bọn chúng chỉ có trò chơi này là hay nhất, vừa chơi vừa có thể kiếm tiền giúp đỡ cha mẹ. Đứng ở ngoài cầu cảng cùng những đứa trẻ câu mực đó, tôi nghĩ: sau này trong những đứa trẻ kia, có đứa sẽ vào đất liền, có đứa sẽ lớn lên, sống trong đêm ánh đèn phố thị nhưng chắc chắn những ký ức đêm ngoài đảo mãi còn. Những gì ban sơ, thuần khiết nhất sẽ mãi còn trong ký ức con người.
Ngày trước trên đảo không có điện, bây giờ thì có điện rồi nhưng quy định đến mười một giờ đêm là ngắt. Nhiều du khách quen sống máy lạnh, máy quạt khó lòng ở lại qua đêm trên đảo. Thật ra ngủ đêm ngoài đảo cũng có thú vui. Hãy cứ rời bỏ căn phòng trọ, ra ngoài sân tìm một chiếc võng để ngả lưng, ngước mắt lên nhìn sao trời rồi chìm vào giấc ngủ không vướng bận. Tôi nhớ lần đầu tiên ra hòn Củ Tron, đêm nằm võng tôi nghe lén được nhiều chuyện khá thú vị từ mấy anh chàng, cô nàng đang tuổi cặp kê. Họ ngồi trên những chiếc võng gần nhau, nói những chuyện gần như là tán tỉnh. Khi đêm đã khuya, tôi nghe mấy anh chàng… rủ nhau đi ngủ. Thật là vui. Họ không về ngủ nhà mình mà lựa nhà thằng bạn nào mát nhất mà ngủ. Đêm nay sẽ ngủ phía sau nhà hay phía trước sân; đêm nay trời đứng gió, có lẽ nên đến nhà thằng X. gần mé biển. Qua câu chuyện của mấy anh chàng, tôi mường tượng mỗi đêm họ sẽ ngủ một nơi khác nhau, mỗi mùa sẽ ngủ ở những hướng khác nhau. Ở quê, ngày xưa khi còn nhỏ, tôi cũng từng đi… ngủ lang nhà bạn bè, tất nhiên trước khi đi phải xin phép ba má. Thời đó chúng tôi sống tự do mà không hề hư hỏng, bởi môi trường sống xung quanh thuần khiết bởi những tấm lòng nhân từ. Và tôi gặp lại hình ảnh của tuổi thơ tôi ngoài đảo. Và tôi đoan chắc rằng những đêm đi ngủ lang thang, với những câu chuyện bạn bè tưởng chừng bất tận kia, sẽ là những đêm đẹp nhất trong đời những chàng trai trẻ.
3. Ngồi trên thuyền lênh đênh ra khơi, nếu như cứ mãi nhìn vào mặt biển, có những thời khắc ta sẽ thấy biển như một bức tranh sơn dầu. Những cơn sóng nhấp nhô, gần và dày như lớp sơn trước mặt. Và lênh đênh xa khơi, ta sẽ thấy mỗi hòn đảo như một tạo tác của thượng đế. Đột nhiên giữa biển khơi mọc lên một quả núi khổng lồ, đặc biệt khoảng cách từ hòn đảo này đến hòn đảo kia gần như được đong đếm cho bằng nhau. Đảo thoạt nhìn trơ trọi nhưng luôn có những vùng eo để chắn gió. Trên đảo dường như không thiếu bất cứ sản vật nào. Còn những thiếu nữ trên hoang đảo thì đẹp một vẻ hoang dã khiến ta như bị thôi miên sững sờ.
Viết đến đây tôi chợt nhớ đến ngôi nhà của bạn mình ở cù lao Long Phước (quận 9, TP.HCM) khoảng hai mươi năm trước. Khi đó, Long Phước là một ốc đảo thanh bình, tươi xanh; chưa có hệ thống cầu bắc qua sông, mọi người dân đi lại bằng tàu, ghe. Bạn tôi đi học khá vất vả, phải qua sông ngày hai lượt, lại đạp xe gần hai chục cây số tới trường. Nhưng bạn không muốn ở lại ký túc xá mà thích đi về mỗi ngày. Một lần sang cù lao thăm nhà bạn, chúng tôi ai nấy đều mê man vì không khí trong lành, trái cây, tôm cá tươi ngon không tả xiết. Tôi còn nhớ như in buổi chiều vàng nắng trên bờ ruộng cỏ khô, uống rượu đế nhắm cá lóc nướng trui và nghe hát vọng cổ. Đã đời. Và ở cù lao Long Phước, hai mươi năm trước tôi cũng từng bị hớp hồn bởi một cô bé đẹp hoang dại, ca vọng cổ ngọt lừ. Thời đó mỗi khi đi xe máy qua đò là muốn bỏ xe đâu cũng được, đi cả ngày hôm sau quay lại xe vẫn còn. Thế nhưng từ khi cù lao có cầu, cuộc sống ở đây đảo lộn kinh hoàng. Cô bé vọng cổ ngày nào cũng rời xa mảnh đất cù lao yên ả.
Nhà văn Lê Văn Thảo rất mê đảo, ông hầu như đã đi khắp các hòn đảo trên đất nước này. Một lần chúng tôi đi Cà Mau, rồi từ Cà Mau đi đường U Minh Thượng qua Rạch Giá (Kiên Giang). Lại ngồi chỗ bến tàu năm trước. Nhưng lần này là tàu cao tốc và ngủ đêm tại đảo Hòn Tre (Kiên Hải, Kiên Giang). Tôm tích ngoài Hòn Tre, loại ngon nhất chỉ khoảng trăm ngàn một ký. Nhưng ra đảo đâu phải để ăn, cũng đâu phải để ngủ. Ra đảo là để tìm cái cảm giác tự do. Ra đảo là để sống những ngày không lo toan vướng bận, những ngày thanh sạch, riêng tư, không giao đãi diễn tuồng.
Giá như năm nào cũng được sống vài ngày ngoài đảo để tìm thấy những điều “ẩn trong mắt những sinh vật và khuất trong đàn chim trời”.
TRẦN NHÃ THỤY