“Trên 20 năm chụp ảnh, quay phim tại các chiến trường, hơn ai hết tôi cảm nhận được rõ nhất thế nào là sự tàn khốc của chiến tranh. Chiến trường bom đạn ác liệt, tất cả chúng tôi đều biết có thể ngày mai mình sẽ chết nhưng luôn tự hào bởi những gì mình đang làm hôm nay sẽ tồn tại mãi đến mai sau”. Vừa chầm chậm lật từng trang album lưu những tấm ảnh cũ ố màu chứa đầy kỷ niệm của một thời hào hùng, ông Hai Hỷ (Trương Thành Hỷ) vừa trải lòng.
Không chỉ cầm súng mới là đánh giặc
Cuối năm 1947, khi đang làm trinh sát tại Trung đoàn 312 (Chi đội 12) thuộc Đội Giải phóng quân liên quận Hóc Môn-Đức Hòa, ông Hai Hỷ được cấp trên cử đi học một khóa về nhiếp ảnh tại Cục Chính trị miền Đông. Ngày đó còn trẻ, lại vốn thích khám phá những điều mới mẻ nên khi nghe được đi học chụp ảnh, ông rất hào hứng. “Chỉ đến khi bước vào khóa học với các thầy Tô Cương, Duy Lân, tôi mới nhận thức đầy đủ rằng từ nay mình sẽ ở vai trò mới: Trở thành phóng viên nhiếp ảnh chiến trường. Thay vì cầm súng đánh giặc, tay tôi sẽ cầm máy chụp ảnh” - ông kể lại.
Chưa đầy ba tháng sau, sáu phóng viên nhiếp ảnh chiến trường đầu tiên đã hoàn thành khóa học và được phân công tác nghiệp tại các mặt trận. Nội dung tác nghiệp được chỉ đạo là chụp tất cả những hình ảnh liên quan đến chiến đấu, sinh hoạt, hành quân của bộ đội trên chiến trường. Ông Hai Hỷ trở về đơn vị cũ, hành trang mang theo là cuốn tập mỏng ghi những kiến thức cơ bản về nhiếp ảnh và chiếc máy ảnh cũ kỹ hiệu Kodak được cấp phát.
Quân giải phóng tiến về Sài gòn ngày 30-4-1975. (Chụp lại từ album gia đình nhân vật)
Thời chiến nên mọi thứ đều rất khó khăn. Số lượng phim đơn vị cấp cho có hạn, để có phim dùng, thêm ông phải lấy tiền túi nhờ người mua từ thành phố rồi tìm cách đem về. “Hồi đó, mỗi cuộn phim tám kiểu giá 10 đồng, tương đương 10 kg gạo. Mỗi lần mua phim tôi thường xin tiền của gia đình chớ khi đó mình làm chi có lương, phụ cấp” - ông nhớ lại.
Để tiết kiệm phim, ông tự mày mò chỉnh sửa các thông số trên máy, căn lại khung ảnh để mỗi cuộn phim sẽ cho ra 16 kiểu (thay vì tám kiểu). Không có buồng tối, ông nghĩ ra cách làm buồng tối theo kiểu dã chiến bằng khung tre, vách và mái trát kín bằng hỗn hợp đất nhồi rơm.
Sau này, khi chụp ở các mặt trận, phải thường xuyên di chuyển, thay vì làm buồng tối dã chiến ông chờ đêm xuống tìm một chỗ khuất, trùm kín mền ngồi làm việc ở bên trong để sáng hôm sau kịp dán ảnh lên những gốc cây ven đường hành quân cho anh em chiến sĩ được xem.
Năm năm sau, vào năm 1952, ông được đi học thêm lớp quay phim ngắn hạn với thầy Khương Mễ ở K8-Đồng Tháp Mười. Lớp có gần 10 người, lại chỉ có duy nhất chiếc máy quay hiệu Poillarol Bolex để thực hành. Do đó cứ học xong lý thuyết là anh em lại thay phiên nhau thực hành luôn dù mỗi người cầm máy chỉ được vài phút.
“Thông thường những cuốn phim và bức ảnh người ta thu lại ngay sau đó. Cho tới giờ tôi chỉ được nhìn lại một số bức ảnh mình chụp trong sách tư liệu, báo chí. Còn những đoạn phim thì hiếm hoi lắm, có lẽ chẳng bao giờ còn thấy vì chúng được coi là tài liệu mật” - ông nói giọng buồn buồn.
Ông Hai Hỷ năm 1954, trước khi tập kết ra Bắc. (Chụp lại từ album gia đình nhân vật)
Cận kề nguy hiểm
Ông Hai Hỷ bảo hồi đó không biết phóng viên chiến trường nước ngoài tác nghiệp thế nào. Còn phóng viên chiến trường ở Việt Nam chỉ có hai tay thôi nhưng vừa đứng thẳng chụp ảnh, quay phim vừa chiến đấu.
Chỉ vào vết sẹo còn hằn nơi bắp tay phải, ông kể đó là dấu tích của trận Bến Cát năm 1948: “Sáng hôm đó, khi anh em ào lên tiến công, tôi cũng băng lên vừa tránh đạn vừa tìm góc chụp thích hợp. Mới bấm được mấy kiểu tôi bỗng thấy tay phải đau nhói, sau đó tê dại dần. Tôi biết mình bị thương. Vừa nghiêng người đổi tay máy, bỗng một viên đạn nữa sượt qua vai… Đó, ngoài chiến trường là thế, sống chết lúc nào không thể biết”.
Ra Bắc tập kết năm 1954, năm 1963 ông đi cùng một đoàn văn công vượt Trường Sơn về lại miền Nam. Hơn hai tháng trời ròng rã vượt núi, băng rừng với một ba lô đồ dùng cá nhân, cổ đeo máy ảnh, vai đeo máy quay phim, cuối cùng ông cũng về tới R (Trung ương Cục miền Nam, Tây Ninh) an toàn.
Ông Hai Hỷ nhắc lại từng kỷ niệm qua những tấm ảnh đen trắng cũ. Ảnh: THU HƯƠNG
Thời gian này, ông được phân công về làm tại xưởng phim Quân Giải Phóng (B8). Chiến tranh chống Mỹ đang bước vào thời kỳ ác liệt, mùa nắng ông cùng đồng đội ra chiến trường chụp ảnh, quay phim tư liệu; mùa mưa tranh thủ phát quang trồng khoai, lúa, đảm bảo đủ lương thực dùng cho suốt một năm.
Ông bộc bạch rằng khi quay những trận đánh ngoài mặt trận dù lòng không muốn nhưng mắt và tay ông vẫn phải hướng máy về phía những đồng chí mình ngã xuống. Đó là những tư liệu về mất mát, hy sinh, về sự khốc liệt của chiến tranh, cũng là cái giá của độc lập, hòa bình.
Chỉ vào những tấm ảnh đen trắng chụp cảnh bộ đội ta tiến về Sài Gòn ngày 30-4-1975, ông cho hay đó là những tấm ảnh mà ông quý nhất, nâng niu nhất. Khi nhắc đến những đồng nghiệp - phóng viên chiến trường cùng thời như Nguyễn Phú Thạnh, Phan Đồng Cam… đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ, ông rơm rớm nước mắt: “Tôi may mắn hơn nhiều đồng đội là được sống để chứng kiến ngày đất nước thống nhất, hòa bình”.
Ông bảo rằng những phóng viên bây giờ giỏi, dũng cảm và xông xáo hơn thế hệ của ông ngày xưa rất nhiều. Đáng quý nhất là nhiều người đã dũng cảm, quyết liệt khi đấu tranh với tệ nạn xã hội, tội phạm, tham nhũng… Không ngại ngùng lên tiếng để bảo vệ sự thật và lẽ phải.
“Thời chúng tôi, thách thức là phải đối mặt với hòn tên mũi đạn. Còn bây giờ, thách thức với người làm báo chính là sự cám dỗ vật chất. Hai thách thức này đều nguy hiểm như nhau. Tôi nghĩ hai đức tính mà người làm báo dù thời nào cũng không thể thiếu đó chính là bản lĩnh và sự dũng cảm” - ông nói.
| Năm 1952, ông Hai Hỷ cùng các nhà quay phim chiến trường Khương Mễ, Lý Cương, Nguyễn Văn Phỉ, Trần Nhu, Hồ Tây, Nguyễn Đảnh, Vũ Ba, Nguyễn Việt Hiền, Dương Trung Nghĩa làm bộ phim tài liệu đầu tiên: Hết đời đế quốc, thời lượng 20 phút. Bộ phim nói về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta. Kỹ xảo là cảnh bỏ “thằng Tây” vào cái chai, sau đó để chai lên khẩu pháo và bắn ra biển. Để có cảnh đó, trước tiên đoàn làm phim chụp hai ảnh riêng là cái chai và ảnh “thằng Tây”. Sau đó dùng phông nền màu đen, chồng hai ảnh đó lên nhau sao cho khớp là được. Thời đó, phim này được công chiếu rộng rãi. Khán giả rất thích cảnh quay sử dụng kỹ xảo ở cuối phim. |
THU HƯƠNG