1. Quê tôi độ này đã vào cuối mùa bông điên điển (điền thanh). Bông vàng rực của xứ nắng, của mùa lụt lội mỗi năm chỉ nở một lần, như là cuộc hẹn trước. Thay vào đó là mùa bông so đũa. Khác với cây điên điển đứng dầm chân dưới nước, cây so đũa mọc ở những vùng đất cao ráo. Hột năm trước rụng xuống, đến mùa sa mưa năm sau cây con mọc lên, người ta bứng đem trồng ở bờ vườn hoặc theo lối đi trong xóm. Hình dáng bông so đũa tựa như bông điên điển nhưng to hơn nhiều, từng chùm treo lủng lẳng trên nhánh lá với màu trắng trinh nguyên như vòng hoa của cô dâu trong ngày cưới. Gọi bông so đũa vì trái của nó treo so le từng chùm như những chiếc đũa đang so. Nông dân ở quê tôi thì quen gọi là bông “sua đũa”, nghe ngây ngô một cách hiền lành dễ thương.
Mùa này vùng sông nước miền Tây dọc theo sông Tiền, sông Hậu và những chi lưu (vùng nước ngọt) còn có một thứ bông đang vào kỳ nở rộ: bông lục bình. Ngộ là thứ bông này chỉ mọc trên mặt nước, kết từng giề, phiêu bạt theo con nước ròng, nước lớn. Bông lục bình đơm quanh một chiếc cuống đâm thẳng lên trời và xòe nở những cánh hoa mỏng tang rung rinh trước gió tựa cánh phù dung.
Thân không là những kỳ hoa dị thảo sực nức hương thơm để được cắm trong những chiếc lọ đắt tiền. Những so đũa, lục bình...chỉ là những loài hoa của đồng nội, với tên gọi mộc mạc khiêm nhường như gái quê “con Bông”, “con Én”… nhưng với những người nông dân quanh năm lam lũ bên thửa ruộng mảnh vườn, có khi cả đời chưa ắt đã bước chân ra chốn thị thành thì những loài hoa bình dị không hương ấy là hồn của quê, là tình của đất. Khi bông điên điển nở vàng đồng là lúc quê nhà đã vào mùa nước nổi, với những bầy cá linh tung tăng bơi lội trắng đồng. Lúc bông so đũa nở trắng trời là đồng ruộng đã rộn ràng vào mùa gặt, thoảng như nghe phảng phất hương thơm của nồi cơm gạo mới. Những hình ảnh quen thuộc đã trở thành một góc nhỏ in đậm trong tình cảm của xứ sở đồng bằng.
2. Có dịp về Cà Mau bằng “con đường tắt”, gọi quản lộ Phụng Hiệp. Con đường mới mở gần đây, xuyên qua những làng mạc dân cư còn thưa thớt, những vùng nông thôn còn “gin”, chưa nhuốm màu thành thị. Theo quốc lộ 1A, ngang qua trung tâm TP Cần Thơ, xe đến gần chợ Ngã Bảy-Phụng Hiệp (nay là tỉnh Hậu Giang) thì có một nhánh rẽ trái rồi đi thẳng một mạch đến trung tâm TP Cà Mau. Những địa danh quen thuộc: Ngã Năm, Ngan Dừa, Phước Long, Chủ Chí… Những cái tên gắn liền với tuổi thơ tôi từ là một thằng bé chăn trâu đầu khét nắng, rồi là một cậu thiếu sinh quân “hỉ mũi chưa sạch” cho đến lúc trưởng thành ôm cây súng đi đánh giặc.
Giăng lưới. Ảnh: CTV
Xứ đồng quê tôi là đây, tư bề lộng gió, những thửa ruộng lúa xanh mơn mởn chưa biết đâu là chân trời. Vài cụm tràm soi bóng. Lác đác vài hàng cây so đũa mọc bên đường. Thấp thoáng bên hàng dừa nước là mái nhà ai, từ xa vọng đến tiếng trâu “nghé… ọ” gọi đồng. Cảnh quê sao mà thanh bình quá! Tôi nhớ có lần một thằng bạn tôi ở Sài Gòn bỗng chép miệng ước ao: “Khi nào về quê là tao phải xăn quần lội xuống bùn một lần cho đã!”. Thằng khác thì “táo bạo” hơn: “Lần này về quê, tao phải đem một cây đước con về trồng… trên sân thượng mới sướng!”.
Lâu lắm rồi mới được dịp trở về chốn cũ. Làng xóm vẫn còn nghèo, không khác mấy so với ngày trước. Nghèo trong không khí yên bình nghĩa là sống được. Cuộc sống diễn ra khá chậm chạp, chưa biết sau này rồi sẽ ra sao khi làn sóng đô thị tràn tới. Một chị phụ nữ ngồi tựa cửa cầm tờ báo đã nhàu nát đến “sình”, say sưa đọc. Cạnh đó là thằng bé trạc bảy, tám tuổi dán mắt săm soi mấy bức ảnh trong tờ báo. Chắc là chưa biết chữ. Hỏi có đọc được không thì nó cười lỏn lẻn rồi chạy tọt ra nhà sau vét nồi rồn rột, chắc là đang lục cơm nguội. Tôi thử liếc nhìn tờ báo, thấy đề thời điểm phát hành từ giữa năm 2011.
Đi chưa tới địa phận của Ngã Năm, ghé vào một quán nhà lá sơ sài toàn những món ăn của đồng quê: canh chua cơm mẻ nấu cá trê trắng với bông súng, cá chốt kho sả, cá rô mề kho tộ, dưa chua bông điên điển. Chủ quán còn khuyến mãi thêm món cá sặc chiên xù. Bốn người ăn hết các món đó, tổng cộng chỉ 120.000 đồng. Tưởng là chủ quán tính lộn! Tôi mua thêm vài keo mắm sặc không xương để khi trở về Sài Gòn tặng cho bạn bè, những đứa xa quê thèm mắm.
Về phía bên trái chỗ tôi ngồi là vùng đồng bằng của huyện Thạnh Trị thuộc tỉnh Sóc Trăng. Đây là vùng cá đồng nổi tiếng một thời. Những người già kể lại thời trước bão lụt năm Thìn (1904), xứ này là vùng bưng trấp, đầy năn, lác. Xác cây mốp nổi kín mặt nước, phía dưới cơ man nào là cá. Nào cá lóc “nái” có râu, cá trê vàng “nọng”, rồi cá thác lác, cá rô, cá sặc… sinh sôi đến “kẹo nước”. Người ta cứ “rộng” chúng ở… ngoài đồng, cần thì bắt lên ăn. Bắt nhiều quá chỗ đâu mà “rộng”. Thời đất rộng người thưa thì bán cho ai. Cho đến khoảng thập niên 1970, cá vùng này vẫn còn sung túc. Chỉ riêng loại cá chốt (giờ đã thành món đặc sản, khó kiếm) nếu lỡ quăng chài nhầm bầy đang đi ăn móng thì phải mất cả buổi để gỡ. Con cá chốt có đến ba cái ngạnh, ngạnh nào cũng có một hàng gai chĩa ngược vào. Cả bầy mà vướng vào miệng chài thì mới “biết đá biết vàng”!
Thấy nhiều chị phụ nữ và bọn con nít bàn tay người nào cũng đóng một lớp dày tựa như màu rượu chát. Hỏi mới biết là bị phèn đóng do nhổ năn, lâu ngày thành vảy. Năn là một thứ cỏ dại, mình tròn suôn đuột, nhỉnh hơn chiếc đũa ăn, ruột có những mắt nhỏ tựa mắt tre nhưng mềm như miếng giấy thấm mỏng. Một người nhổ trọn buổi chất đầy cả xuồng be tám đem về. Mấy chị bó thành từng bó, đem ra chợ bán kiếm vài đồng mua nước màu, nước mắm. Trước khi chế biến thành món ăn, người ta dùng một que tre nhỏ hoặc cọng tăm nhang rạch một đường phía dưới góc, là phần non, rồi tách vỏ ra để lộ phần ruột trắng phếu. Bỏ vào miệng nhai, cảm thấy vị ngọt thơm tan trên đầu lưỡi. Năn dùng nấu canh, xào tép hoặc thịt gà, thịt vịt. Nếu ăn sống, chấm với mắm kho hoặc cá rô mề kho lạt. Thứ này chưa thấy ai chở ngược lên Sài Gòn vì không kinh tế, để ngoài trời thì nó mau héo, mất ngon, còn gói kỹ thì mau bị úng, phải đổ bỏ. Ở miền Tây bây giờ, năn lại là một thứ đặc sản vì quá hiếm.
Từ Cai Vãng ngược lên hướng bắc sẽ đến Cỏ Thum, rồi Cạnh Đền. Địa danh này ghi dấu cuộc tháo chạy của vua Nguyễn Ánh khi bị quân Tây Sơn rượt đuổi. Lúc ấy, nơi đây là vùng rừng rậm, chướng khí độc địa:
“Đâu xa bằng xứ Cạnh Đền.
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh như bánh canh!”
Mới nghe qua đã sợ, chưa đến là muốn thoái lui! Vậy mà con người vẫn sống, vẫn lập vườn cuốc rẫy, con cháu vẫn đầy đàn. Trong tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam có câu chuyện “Cô Út về rừng”. Cô Út là con của ông bà Cả ở rạch Bình Thủy thuộc tỉnh Cần Thơ, được gả về làm dâu ở xứ Cạnh Đền. Theo lời tác giả, câu chuyện xảy ra đâu hồi năm 1939 hoặc 1940 gì đó, có đoạn:
“… Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông hương Cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:
- Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.
Bà Cả mừng quýnh:
- Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi!
Khách trả lời:
- Dạ, đẻ năm một. “Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông”. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.
- Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ đẻ nhiều quá vậy?
Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:
- Dạ, ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà vợ chồng con cái rút vô mùng… nói chuyện. Ít ai đi đâu.
Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông bà Cả mới hiểu thêm một bí mật quan trọng của tiếng “muỗi kêu như sáo thổi” ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.”
3. Nói về phong tục ở Nam Bộ vào đời Gia Long, sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi: “Đất Gia Định nhiều sông suối, cù lao nên 10 người đã có chín người quen việc chèo thuyền, bơi lội dưới nước, ưa ăn mắm”. Không sai chút nào. Đến như cụ Đồ Chiểu đã có lần mắng Tôn Thọ Tường là kẻ vong bổn vì không biết… ăn mắm sống! Nam Bộ - tiêu biểu là người ở miền Tây - mắm gần như là món cúng “vật lề” (*)của những lưu dân miền Trung trên đường xuôi xuống phương Nam tìm kế sinh nhai. Biết ăn mắm với nhau, có thể xem như “bạn ruột”, dễ cảm thông, như dân nhậu.“Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu”.
Chỉ riêng ở đồng bằng sông Cửu Long, đến nay đã có đến gần 30 loại mắm. Có câu:
“Muốn ăn bông súng mắm kho,
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm.”
Ở Đồng Tháp có một loại mắm nổi tiếng là mắm cá linh. Cọng bông súng ở miệt đồng mềm, ngọt hơn bông súng Đà Lạt. Người miền Tây ăn mắm kho (sau này phát triển bằng lẩu mắm) với ít nhất 20 loại rau đồng, thêm bông điên điển, bông so đũa và bông lục bình, có hương vị lạ với chút tự hào “cây nhà lá vườn”.
Mắm là dấu ấn của thời kỳ khẩn hoang ở vùng đất phương Nam. Về xuất xứ, theo Sơn Nam thì có thể do người Chăm, người Khơ-me du nhập rồi sớm được nhóm lưu dân người Việt đón nhận để sau đó trở thành một nét văn hóa ẩm thực của vùng miền…
“Tình yêu đất nước là sự thương nhớ, thèm thuồng món ăn mà cha mẹ cho mình ăn lúc mình còn nhỏ tuổi.” (Lâm Ngữ Đường). Đất nước hiểu một cách gần gũi là quê hương, là “tiếng chó sủa trăng…”, là cái bụi tre ở xó vườn cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho ta những mối cảm tình chứa chan” (“Chốn quê hương đẹp hơn cả” - Quốc văn giáo khoa thư). Theo nghĩa câu nói của cụ Đồ Chiểu, lòng yêu nước của tôi có cộng thêm một phần là rất mê ăn mắm sống!
Tháng 11-2012
PHAN VŨ
(*) Người miền Trung trước khi đi làm ăn xa có giao ước trong thân tộc đến ngày giỗ thì cúng một món nào đó, người trong bà con sẽ nhận ra.