Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, PGS-TS Cao Vũ Minh, Trưởng bộ môn Luật hành chính - nhà nước, khoa Luật Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM, cho rằng cải cách thể chế với trọng tâm là nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, tăng cường kỷ luật, kiểm soát quyền lực và đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng sẽ củng cố niềm tin thể chế, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Vai trò nền móng của thể chế
. Phóng viên: Thưa PGS, Đại hội XIV được xem là dấu mốc quan trọng mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trong bối cảnh đó, ông nhìn nhận như thế nào về vai trò của cải cách thể chế?
+ PGS-TS Cao Vũ Minh: Văn kiện Đại hội XIV xác định rõ yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, trong đó cải cách thể chế được đặt ở vị trí trung tâm, giữ vai trò đột phá, mang tính nền tảng để đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Cải cách thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia.
Việc đặt thể chế ở vị trí trung tâm của tư duy phát triển chính là sự khẳng định vai trò nền móng của thể chế đối với mọi đột phá chiến lược khác. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh nhiệm vụ hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, coi đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực quản trị quốc gia và hiệu quả tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
. Một điểm mới đáng chú ý trong Văn kiện Đại hội XIV là cách tiếp cận về thể chế. Ông có thể phân tích rõ hơn?
+ Điểm đổi mới có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc là Văn kiện Đại hội XIV không tiếp cận thể chế thuần túy chỉ từ góc độ xây dựng pháp luật, mà chuyển mạnh trọng tâm sang chất lượng tổ chức thực hiện pháp luật, coi đây là thước đo thực chất của Nhà nước pháp quyền XHCN. Điều này có nghĩa là thay vì chỉ chú trọng “luật được viết như thế nào”, chúng ta quan tâm nhiều hơn đến “luật được thực hiện ra sao”.
Như vậy, chính chất lượng của việc thực hiện pháp luật mới là trọng tâm tạo ra sự khác biệt căn bản giữa thể chế tồn tại trên văn bản với thể chế vận hành hiệu quả trong thực tiễn. Cách tiếp cận này thể hiện sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng, đồng thời thể hiện quan điểm xuyên suốt là thể chế chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi pháp luật được tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất quán và đi vào đời sống một cách thực chất.
Hoàn thiện thể chế phát triển
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 41 ngày 14-3-2026 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Đối với công tác xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, Chính phủ đặt ra hàng loạt nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ tập trung hoàn thiện, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, khả thi, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, dễ tiếp cận, kiến tạo phát triển và hội nhập quốc tế; bảo đảm hệ thống pháp luật có cấu trúc hợp lý và tính ổn định tương đối, có khả năng dự báo được, đồng thời có độ mở phù hợp với yêu cầu thực tiễn; bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân.
Đặc biệt, Chính phủ cũng đặt ra nhiệm vụ sửa đổi, bổ sung các luật quan trọng để hoàn thiện thể chế phát triển.
. Để hiện thực hóa chỉ đạo “lấy thực thi làm thước đo” theo định hướng trên, cải cách thể chế cần dựa trên những trụ cột nào và nó có vai trò ra sao trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN?
+ Trước hết là tuân thủ kỷ luật trong thực hiện pháp luật. Kỷ luật là nền tảng cốt lõi tạo nên văn minh xã hội và bảo đảm an toàn, trật tự, giúp kiểm soát hành vi, nâng cao trách nhiệm cá nhân và thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Việc tuân thủ kỷ luật giúp giảm thiểu rủi ro, xung đột, từ đó xây dựng môi trường sống, làm việc an toàn, hiệu quả. Một xã hội có trật tự, kỷ cương, tuân thủ pháp luật nghiêm minh là một xã hội thượng tôn pháp luật. Một xã hội thượng tôn pháp luật sẽ tạo sự an toàn cho người dân và nhà đầu tư. Như vậy, kỷ luật và hệ quả tất yếu là trật tự không kìm hãm sự phát triển mà tạo ra hành lang an toàn cho sự sáng tạo.
Thứ hai, song hành với xây dựng Nhà nước pháp quyền là chống tham nhũng. Tham nhũng là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến nỗ lực xây dựng cũng như thực thi chính sách.
Phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng diễn ra sáng ngày 20-1 tại Hà Nội. Ảnh: TTXVN
Chống tham nhũng: Củng cố niềm tin và nguồn lực
. Như ông đề cập, khi xây dựng Nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa chống tham nhũng và tăng trưởng kinh tế được đặc biệt quan tâm. Bài toán này được đặt ra như thế nào trong giai đoạn tới?
+ Cộng đồng thế giới đã chỉ ra rằng với mức tăng 1% của tham nhũng, tăng trưởng kinh tế giảm khoảng 0,2%. Do đó, Việt Nam muốn đạt mức tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026-2030, từ đó hướng tới trở thành nước phát triển vào năm 2045 thì điều kiện tiên quyết là phải quyết liệt chống tham nhũng.
Trong bảng xếp hạng CPI (chỉ số cảm nhận tham nhũng) của 180 quốc gia và vùng lãnh thổ thì Việt Nam đã tăng 10 bậc, từ xếp hạng thứ 87 vào năm 2021 lên 77 vào năm 2022. Điều này cho thấy sự quyết tâm chống tham nhũng của Việt Nam. Sau đó có suy giảm nhẹ nhưng một tín hiệu đáng mừng là năm 2025, chỉ số cảm nhận tham nhũng năm 2025 của Việt Nam đã tăng trở lại khi đạt 41 điểm.
Con số này không phải đột phá nhưng nó chặn được đà của tham nhũng. Trong bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá là đang đình trệ tiến trình chống tham nhũng, việc giữ được sự phục hồi là tín hiệu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, CPI không phải bảng thành tích. Nó là dấu chỉ về mức độ tin tưởng của người dân vào hệ thống công quyền.
Suy cho cùng, chỉ số cảm nhận tham nhũng cũng chỉ là những con số nhưng sự tăng hay giảm của nó ẩn chứa những thông điệp rõ ràng về niềm tin vào thể chế. Khi điểm số thay đổi, điều cần quan tâm không phải là “tăng bao nhiêu điểm”, mà là “niềm tin được củng cố bằng cách nào” và “chính quyền đã có những giải pháp nào nhằm chống tham nhũng một cách hiệu quả”.
. Như vậy, có thể hiểu chống tham nhũng cũng chính là củng cố niềm tin thể chế?
+ Đúng vậy. Chống tham nhũng là củng cố nguồn lực. Khi tham nhũng giảm, niềm tin vào thể chế sẽ tăng lên. Điều này không chỉ giữ vững nguồn lực nội sinh mà còn thu hút được nguồn lực nước ngoài (thu hút đầu tư), từ đó tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Nói cách khác, chống tham nhũng không chỉ là làm trong sạch bộ máy, mà còn là chiến lược phát triển dài hạn cho đất nước.
. Xin cảm ơn ông.
Sự chuyển dịch sang tư duy pháp quyền thực chất
. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế. Theo PGS, điều này cần được thực hiện như thế nào?
+ Đại hội XIV vẫn khẳng định và kiên trì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chính vì vậy, pháp luật phải phục vụ cho việc giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy khoa học công nghệ và nâng cao đời sống nhân dân.
Không tô hồng, không lảng tránh, Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh nhiệm vụ tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn do quy định của pháp luật, coi đây là yêu cầu cấp bách nhằm giải phóng nguồn lực và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Như vậy, tư duy về xây dựng và thi hành pháp luật phải có sự thay đổi. Cụ thể, xây dựng và thi hành pháp luật phải được thay đổi theo hướng kiến tạo phát triển, chuyển mạnh từ quản lý - kiểm soát sang quản trị - phục vụ, lấy kết quả và tác động thực chất đối với phát triển kinh tế - xã hội làm tiêu chí đánh giá. Bên cạnh đó, việc triển khai thi hành pháp luật cần gắn liền với kiểm soát quyền lực, bảo đảm mọi chủ trương, chính sách sau khi ban hành đều được tổ chức thực hiện nghiêm túc, nhất quán và đến cùng.
. Ông có thể tổng kết lại ý nghĩa của sự chuyển dịch tư duy lần này?
+ Việc chuyển trọng tâm từ ban hành pháp luật sang tổ chức thực hiện pháp luật cho thấy sự chuyển dịch căn bản từ tư duy pháp luật hình thức sang tư duy pháp quyền thực chất (chú trọng hiệu quả thực tế). Sự dịch chuyển này tập trung vào tính khả thi, đưa luật vào cuộc sống một cách tự nhiên mà không mất quá nhiều chi phí cho việc triển khai thi hành.
Đẩy mạnh phân cấp, tăng quyền tự quyết, tự chịu trách nhiệm cho địa phương
Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực Nhà nước phải được kiểm soát chặt chẽ để tránh lạm quyền. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền từ Trung ương xuống địa phương không chỉ là cơ chế bảo đảm quyền lực được tổ chức thực hiện một cách chuyên nghiệp ngay tại nơi nó được sinh ra, mà còn là một phương thức kiểm soát quyền lực Nhà nước một cách chủ động.
Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền
Khi đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, Trung ương sẽ tập trung vào những việc mang tính vĩ mô, chiến lược, đề ra các quyết sách lớn, dài hơi với tầm chiến lược. Còn địa phương với thẩm quyền được phân cấp, phân quyền mạnh mẽ sẽ là cơ hội để khai thác và phát triển triệt để nguồn lực phong phú, dồi dào ở địa phương, trong đó đặc biệt là phát huy sức mạnh và nguồn lực nhân dân sinh sống ở các địa phương.
Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền là cách phân định hợp lý chức năng, sử dụng và khai thác hợp lý, hiệu quả khối quyền lực Nhà nước mà nhân dân trao cho. So với kiểm soát Trung ương thì kiểm soát chính quyền địa phương là thiết thực hơn, trực tiếp hơn, bảo đảm rõ nhất dân chủ, quyền con người, quyền công dân.
Tuy nhiên, nếu quyền lực chính quyền địa phương không được kiểm soát hoặc kiểm soát không hiệu quả, sự lạm quyền của chính quyền địa phương sẽ dẫn đến các hệ quả chính trị, kinh tế, xã hội rất lớn. So với Trung ương, địa phương là nơi triển khai và tổ chức thực hiện pháp luật trên thực tế, mọi vấn đề pháp luật liên quan đến dân cư thì đều phải thông qua sự triển khai, tổ chức thực hiện, điều hành, quyết định của chính quyền địa phương.
Do đó, việc kiểm soát quyền lực chính quyền địa phương không hiệu quả sẽ tác động sâu sắc về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.
Đặc biệt, trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, việc phân định thẩm quyền và kiểm soát quyền lực Nhà nước là hai nội dung then chốt cần được bảo đảm để tiến gần hơn với mục tiêu Nhà nước pháp quyền.
Cấp tỉnh tự quyết việc phân định thẩm quyền cho cơ sở
Việc phân định thẩm quyền cho chính quyền cấp cơ sở là thiết yếu và thiết nghĩ Trung ương nên giao cho chính quyền cấp tỉnh là đầu mối và chủ động, tự quyết việc tổ chức phân định lại thẩm quyền cho cấp cơ sở.
Cụ thể, không nhất thiết thẩm quyền các tỉnh là giống nhau nên có khác biệt giữa thẩm quyền tỉnh, TP và tất nhiên không nhất thiết các xã trong một tỉnh, các phường trong một TP có thẩm quyền như nhau. Trên cơ sở đó, cần đẩy mạnh và tiến tới phát triển mô hình đặc khu kinh tế tại những địa bàn có vị trí địa lý và nguồn lực phù hợp.
Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay cần xem tổng thể cấp địa phương là một chỉnh thể thống nhất, việc phân định thẩm quyền cấp tỉnh và cấp xã cần được nhìn thấy dưới góc nhìn kỹ thuật tổ chức thực hiện quyền lực trong nội bộ địa phương.
Theo đó, việc tỉnh nào phân cấp cho xã nào cần xem là vấn đề cá biệt của mỗi địa phương, tránh phân cấp cào bằng, cơ học, đánh đồng các đơn vị hành chính cấp tỉnh, đơn vị hành chính cấp xã với nhau.
Điển hình như phân cấp trong quản lý đất đai, trước đây, khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều thẩm quyền của cấp huyện trước đây được giao về cho cấp xã. Tuy nhiên, việc thi hành tồn tại nhiều bất cập, cấp xã nhiều địa phương không làm được việc giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… Chính phủ đã ban hành Nghị định 49/2026 hướng dẫn Nghị quyết 254/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai. Theo đó, khoản 1 Điều 14 Nghị định 49/2026 đã quy định UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, chấp thuận về việc thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án, chấp thuận, phê duyệt phương án sử dụng đất.
Tùy tình hình thực tế của địa phương, UBND cấp tỉnh quyết định việc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện đối với các nhiệm vụ cho phù hợp.
Như vậy, tùy tình hình từng địa phương, có nơi thì có xã được phân cấp, có xã không được phân cấp; có nơi phân cấp cho ủy ban cấp dưới là cấp xã, cũng có nơi sẽ phân cấp cho lãnh đạo ủy ban tỉnh, toàn quyền của các địa phương. Đây là giải pháp pháp lý mang tính kỹ thuật tổ chức thực hiện thẩm quyền được Trung ương giao, tạo nên sự chủ động, sáng tạo và linh hoạt cao cho từng địa phương, phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu của từng địa phương.
Ngoài ra, khi thực hiện đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nhu cầu kiểm soát hiệu quả quyền lực Nhà nước ở địa phương là cấp thiết nhằm bảo đảm đời sống chính trị, kinh tế, xã hội địa phương; càng là đòi hỏi cấp bách trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
Tuy nhiên, với các phương thức kiểm soát hiện có, kiểm soát quyền lực Nhà nước ở địa phương còn hình thức, né tránh các cơ chế hiệu quả hơn. Sở dĩ có sự né tránh này vì các cơ chế kiểm soát quyền lực địa phương được xem là hiệu quả như kiểm soát trực tiếp từ người dân địa phương, kiểm soát trên cơ sở tư pháp độc lập… đều được hình thành và chỉ có thể hình thành được trên nền của một phương thức tổ chức chính quyền địa phương có sự phân quyền theo chiều dọc và chiều ngang.
Do đó, để có một cơ chế kiểm soát chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, cần phải có sự cải cách sâu rộng, ở đó sự bắt đầu không nằm ở việc kiểm soát mà được quyết định ở các nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước ở nước ta hiện nay.
TS NGUYỄN THỊ THIỆN TRÍ, Trường ĐH Luật TP.HCM
LÊ THOA ghi