Dù vậy, thời gian qua đây đó vẫn còn những bản án viết khá ẩu, thậm chí phạm những lỗi ngô nghê. Có tòa trong phần nhận định của bản án còn suy diễn phóng đại, nâng tầm hiếp dâm trẻ em thành… quốc nạn.
Trước hết là những bản án phạm lỗi chính tả hay ngữ pháp. Dù các lỗi này hoàn toàn có thể khắc phục thông qua việc đính chính của tòa nhưng gây mất thời gian, thêm việc không đáng.
Sai chính tả, ngữ pháp
Trong bản án số 09/2008/DSST của TAND huyện Hòa Bình (Bạc Liêu), rất nhiều dấu hỏi, dấu ngã được đánh sai. Chẳng hạn, “bà làm đến ngày 15 tháng 8 năm 2005 âm lịch thì nghĩ làm do bị bệnh, lúc này bà đòi tiền công lao động thì bà P. không trả tiền và cho rằng không có thuê mướn bà làm việc, từ đó phát sinh mâu thuẩn”. Bản án 05/2010/HSST của TAND tỉnh Quảng Namghi “tướt đoạt” thay vì“tước đoạt”. Bản án số 02/HNGD/STcủa TAND huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) ghi “ngưới” thay vì“người”…
Một lỗi ngữ pháp khá phổ biến là tòa viết ra một cụm từ vốn chỉ dùng làm trạng ngữ, vị ngữ rồi… chấm hết câu, thành câu què, câu cụt. Chẳng hạn nguyên văn một câu trong bản án số 02/HNGD-ST của TAND huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) như sau: “Do ông TQT đứng tên”. Hay nguyên văn một câu trong bản án số 10/2010-HSST cũng của tòa này:“Xét thấy hành vi của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội”.
Nghiêm trọng hơn, bản án số 101/2008/DSPT của TAND tỉnh Quảng Nam ghi sai chính tả một con số thôi nhưng thành sai cả nội dung. Tòa viết: “Ông LM cho rằng tòa xác định giá trị con trâu 1.400.000 đồng là quá cao”. Trong khi đó, con trâu được đề cập trong vụ án này được định giá tới 14 triệu đồng chứ không phải 1,4 triệu đồng.

Sai nghĩa, tối nghĩa
Cũng có khi tòa viết án như “chơi chữ” nhưng lại… trật nên ngữ nghĩa của câu văn thay đổi hoàn toàn. Chẳng hạn, trong bản án số 27/2010/HSST của TAND tỉnh Quảng Nam, nạn nhân bị giết vì có lời lẽ khiếm nhã với thủ phạm. Tòa viết: “Nhưng từ việc ông T. có lời lẽ bất khiếm nhã”... Đáng lẽ chỉ cần ghi là “ông T. có lời lẽkhiếm nhã”, tòa lại thêm vào chữ “bất” làm ngữ nghĩa đảo lộn rất vô lý.
Bản án số 192/2008/DSST của TAND TP Vị Thanh (Hậu Giang) về việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà NKK và bà NTL có một câu dài 160 chữ đọc rất rối rắm, nhức đầu. Xin trích nguyên văn: “Tuy nhiên căn cứ theo hợp đồng phía nguyên đơn chỉ có thỏa thuận chuyển nhượng phần đất chiều ngang 4m 50, dài 13m nhưng khi sử dụng và đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền bà L. có sự gian dối không xuất trình thỏa thuận chuyển nhượng trước đây kê khai đăng ký dư so với diện tích mình có được do mua bán trùm phần đất còn lại của nguyên đơn mà không được sự đồng ý của nguyên đơn là vi phạm pháp luật đất đai, nay có tranh chấp tòa buộc bà L. có trách nhiệm giao trả lại toàn bộ phần đất đăng ký dư ngoài phần đã nhận chuyển nhượng trước đây, kiến nghị UBND thị xã Vị Thanh thu hồi một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà L. năm 1999 để cấp lại cho đúng chủ sử dụng”.
Có trường hợp tòa nhận định và “tán” thêm một cách không cần thiết. Bản án số 01/2009/HSST của TAND huyện Hòa Bình (Bạc Liêu) ghi như sau: “Ý thức, mục đích của bị cáo S. muốn thỏa mãn tình dục khi thấy cháu T. là một cháu gái là bị cáo đã có cảm giác hình dung dâm dục như một người phụ nữ mới đem lại cảm giác cho người đàn ông”!
Bản án số 35/2010/HSST của TAND tỉnh Trà Vinh còn suy diễn phóng đại, “nâng tầm” hiếp dâm trẻ em thành… quốc nạn: “… Trong tình hình hiện nay, tệ nạn xâm phạm tình dục trẻ em xảy ra ngày càng nhiều, trở thành quốc nạn. Để góp phần đấu tranh ngăn ngừa tội phạm, hội đồng xét xử thấy cần lên cho bị cáo một mức án nghiêm mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội”...
| Tường thuật lẫn lộn trực tiếp với gián tiếp Một dạng khác, bản án của tòa thuật lại lời trình bày của đương sự lại lẫn lộn giữa dạng trực tiếp và gián tiếp, đọc rất buồn cười. Bản án số 24/2010/DS-ST ngày 26-8-2010 của TAND tỉnh An Giang về việc đòi lại đất cho ở nhờ như sau: “Ông LHC trình bày: “Việc tranh chấp giữa bà T. với ông C. thì ông không có ý kiến gì, ông chỉ yêu cầu xem xét lại giấy tờ mua bán giữa ông Đ., bà P. với ông V., bà Y. vì trên đất có căn nhà của cha mẹ tôi cho tôi”. Hay một bản án của TAND huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) thuật lại lời khai của bà NHLA như sau: “Nhiều lần xúc phạm đến danh dự của tôi và gia đình. Không những thế, rất nhiều lần ông C. còn đánh đập bà gây thương tích”… Quy định, hướng dẫn về bản án Trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, hình thức và nội dung của bản án sơ thẩm được quy định tại Điều 224; của bản án phúc thẩm được quy định tại Điều 248. Năm 2004, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã ban hành nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần xét xử sơ thẩm của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003. Kèm theo nghị quyết là 11 mẫu văn bản liên quan tới quá trình từ thụ lý hồ sơ vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử, biên bản nghị án... đến mẫu bản án sơ thẩm. Đi kèm từng mẫu là hướng dẫn viết cho từng mục văn bản. Mẫu bản án được hướng dẫn chi tiết cách viết 27 mục, từ tên bản án, số bản án đến phần phân tích, đánh giá vụ án của hội đồng xét xử.... Các mẫu văn bản này nhằm mục đích giúp các tòa án trong cả nước thống nhất cách viết, đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu, đúng pháp luật. Còn trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, hình thức và nội dung của bản án sơ thẩm được quy định tại Điều 238, của bản án phúc thẩm được quy định tại Điều 279, của quyết định giám đốc thẩm được quy định tại Điều 287, của quyết định tái thẩm cũng được quy định tương tự như thủ tục giám đốc thẩm theo Điều 310. Ngoài ra, hình thức và nội dung của quyết định giải quyết việc dân sự cũng được quy định tại Điều 315… Năm 2005, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành Nghị quyết số 01, kèm theo là mẫu bản án sơ thẩm được soạn thảo theo tinh thần Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, được sử dụng cho tất cả các tòa án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cũng hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm… |
NGUYÊN THUẬN LOAN