Hình ảnh máy bay không người lái vận hành trên đồng ruộng, vườn cây hay hệ thống tưới tiêu, bón phân tự động điều khiển qua máy tính… ngày càng trở nên phổ biến trong nông nghiệp Việt Nam.
Chuyển đổi số trong nông nghiệp
Ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, đánh giá việc ứng dụng công nghệ cao không chỉ giúp giảm thiểu chi phí, hạn chế rủi ro trong sản xuất mà còn tạo động lực cho ngành nông nghiệp phát triển bền vững.
Nhiều năm qua, ông Đặng Dương Minh Hoàng, Giám đốc Nông trại Thiên Nông (Bình Phước), đã thổi một luồng gió mới vào sản xuất nông nghiệp. Trên quy mô 50ha chuyên canh bơ, hồ tiêu và cao su, nông trại của ông đã tiên phong ứng dụng IoT (Internet vạn vật), blockchain và máy bay không người lái vào toàn bộ quy trình từ trồng trọt, chăm sóc đến thu hoạch.
Công nghệ cũng giúp ông Hoàng xây dựng nhật ký điện tử và mã QR riêng cho từng loại cây trồng để truy xuất nguồn gốc, theo dõi lịch sử chăm sóc.
Ông Hoàng cho biết, việc quản lý chăm sóc và thu hoạch tại nông trại cũng được số hóa bằng hệ thống tưới tự động, năng lượng mặt trời và camera giám sát.
“Chúng tôi còn sử dụng thiết bị tưới thông minh, thiết bị bay không người lái (drone) và máy phun sương của Nhật để đảm bảo lượng phân, thuốc tiêu dùng hiệu quả nhất và nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm thời gian và chi phí. Song song với đó là chủ động kiểm nghiệm định kỳ hơn 400 chỉ tiêu và kim loại nặng để theo dõi chất lượng nông sản và môi trường của trang trại"- ông Hoàng nói.
Vị này tiết lộ, hiện nay với trái bơ đơn vị đã định hình được phân khúc của mình với giá bán từ 50.000 – 60.000 đồng/kg tại các chuỗi trái cây sạch, đồng thời xuất khẩu ra nhiều nước như Thái Lan, Trung Quốc… Với cây hồ tiêu được trồng theo hướng hữu cơ đã ký được hợp đồng bao tiêu với tập đoàn gia vị hàng đầu của Hà Lan.
Tương tự, tại Hợp tác xã (HTX) Tuấn Ngọc (TP. Thủ Đức, TP.HCM), ông Lâm Ngọc Tuấn, Giám đốc điều hành, cho biết từ năm 2019 đến nay, chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, ông có thể giám sát toàn bộ hệ thống thủy canh trong nhà kính. Khi có bất kỳ yếu tố nào vượt ngưỡng cho phép, hệ thống sẽ lập tức cảnh báo để kỹ sư kịp thời điều chỉnh, qua đó hạn chế rủi ro cho cây trồng và nâng cao chất lượng sản phẩm rau.
Ông Tuấn thông tin, HTX trồng tất cả các loại rau trên hệ thống thủy canh cải tiến giúp tiết kiệm chi phí. Rau được trồng trong nhà kính, ứng dụng công nghệ tự động hóa với thiết bị hẹn giờ kiểm soát điện, nước, dinh dưỡng; hệ thống quạt đối lưu, phun sương giảm nhiệt kết nối cảm biến nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…
“IoT cho phép giám sát, điều khiển các yếu tố môi trường và dinh dưỡng, độ PH trong dung dịch, độ an toàn của nước…. theo thời gian thực, từ đó giúp cho rau phát triển được trong điều kiện tốt nhất.
Đơn cử như với xà lách, hiện chúng tôi đang trồng theo mô hình xà lách thủy canh vùng nóng, năng suất đạt chất lượng cao, sản lượng ước tính chỉ thua vùng trồng Lâm Đồng 20%”- ông Tuấn nói.
Nông nghiệp công nghệ cao không còn là sân chơi riêng của các doanh nghiệp nông nghiệp. Các tập đoàn công nghệ lớn tại Việt Nam như FPT, MobiFone, VNPT... cũng thể hiện tham vọng với việc triển khai các gói dịch vụ chuyên biệt.
Đơn cử, VNPT đã ra mắt hệ sinh thái nông nghiệp số VNPT Green, giúp người dân quản lý toàn trình từ trồng trọt, thu hoạch đến tiêu thụ thông qua truy xuất nguồn gốc.
Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp và chuyên gia, thị trường cung ứng giải pháp công nghệ nông nghiệp vẫn còn phân mảnh và đối mặt nhiều rào cản, đặc biệt là chi phí đầu vào cao.
Theo ước tính của Công ty nghiên cứu thị trường BlueWeave Consulting, quy mô thị trường canh tác thông minh Việt Nam đạt hơn 174 triệu USD vào năm 2022. Trong giai đoạn dự báo 2023 - 2029, thị trường này dự kiến tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) với tốc độ xấp xỉ 12,4%, đạt giá trị gần 390 triệu USD vào năm 2029.
Vẫn còn nỗi lo khi ứng dụng công nghệ cao
Ông Lâm Ngọc Tuấn cho rằng dù rất hiệu quả nhưng áp lực chi phí đầu tư ban đầu vẫn là rào cản lớn khiến các HTX, doanh nghiệp quy mô nhỏ còn e ngại khi triển khai nông nghiệp công nghệ cao.
"Trung bình, để đầu tư 1.000 m2 nhà kính, doanh nghiệp cần khoảng 1 tỉ đồng. Đây là khoản đầu tư đáng kể, không phải đơn vị nào cũng đủ khả năng chi trả. Trong khi đó, việc tiếp cận vốn vay cho mô hình nhà kính, nhà màng còn nhiều vướng mắc do các ngân hàng chưa công nhận đây là tài sản trên đất, gây khó khăn cho việc thế chấp vay vốn" - ông Tuấn phân tích.
Bên cạnh đó, tìm kiếm nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao và đảm bảo đầu ra ổn định cho sản phẩm sạch, thủy canh... vẫn là những thách thức lớn mà HTX đang nỗ lực tìm lời giải.
Từ góc độ hiệp hội, ông Nguyễn Văn Mười cũng thừa nhận mức đầu tư cho công nghệ hiện đại trong nông nghiệp khá lớn trong khi sản phẩm tạo ra đôi khi chưa có sự khác biệt rõ rệt về giá bán hoặc phải chịu áp lực cạnh tranh gay gắt về giá và đầu ra so với sản phẩm truyền thống.
Để thúc đẩy các sản phẩm nông nghiệp của TP.HCM, tôi cho rằng cần có cơ chế, chính sách để xây dựng và nhận diện thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao "Made in TP.HCM".
Ông Lâm Ngọc Tuấn - Giám đốc điều hành HTX Tuấn Ngọc
Đại diện một doanh nghiệp cung ứng dịch vụ nông nghiệp số nhận định, các giải pháp công nghệ hiện chủ yếu hướng đến mô hình HTX có tiềm lực tài chính hoặc khối doanh nghiệp lớn. Trong khi đó, nông dân quy mô nhỏ chiếm đại đa số thì lại gặp nhiều rào cản về lòng tin, sự sẵn sàng thay đổi phương thức canh tác truyền thống cũng như hạn chế về chi phí và khả năng tiếp cận, ứng dụng công nghệ.
"Do đó, rất cần những chính sách hỗ trợ thiết thực để nông dân hiểu và mạnh dạn áp dụng công nghệ vào sản xuất"- vị đại diện này bày tỏ.
Nông nghiệp công nghệ cao cần nhiều nguồn hỗ trợ
Từ thực tế triển khai nông nghiệp số tại nông trại, ông Đặng Dương Minh Hoàng cho rằng để phát triển nông nghiệp số và nông nghiệp hữu cơ rất cần sự chung tay của các sở, ban, ngành, ngân hàng và tổ chức tài chính trong việc hỗ trợ vốn. Cần công khai, minh bạch các chương trình hỗ trợ, cho vay ưu đãi, đặc biệt là xây dựng cơ chế tín dụng riêng cho nông nghiệp số, nông nghiệp hữu cơ.
Ông Hoàng cũng đề xuất tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, truyền thông, quảng bá các mô hình nông hộ, HTX ứng dụng hiệu quả nông nghiệp số, cơ giới hóa, tự động hóa và sản xuất nông sản hữu cơ. Đồng thời, cần có cơ chế đặc thù để thúc đẩy hoạt động xúc tiến và chuyển giao khoa học công nghệ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp, HTX và nông dân.
Người làm nông nghiệp công nghệ cao kỳ vọng TP.HCM cần có những chương trình, cơ chế riêng để quảng bá sản phẩm nông nghiệp sản xuất tại địa phương. Dù Sở Công Thương TP.HCM đã có chương trình "Tích xanh trách nhiệm", nhưng vẫn cần thêm những dấu hiệu nhận diện riêng để tăng tính khác biệt và sức hút cho sản phẩm nông nghiệp đô thị so với sản phẩm thông thường.
Các siêu thị, điểm bán lẻ cũng có thể nghiên cứu dành riêng quầy kệ hoặc có các chỉ dấu nhận diện đặc trưng cho nông sản TP.HCM.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh truyền thông về các sản phẩm nông nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao của TP.HCM đến đông đảo người tiêu dùng.
Năm 2025, TP.HCM đã ban hành Kế hoạch số 2705 về triển khai Chương trình phát triển giống cây, con và nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn. Theo đó, thành phố sẽ đầu tư nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng các khu, vùng sản xuất phát triển giống và nông nghiệp công nghệ cao.
Cụ thể, tiếp tục triển khai đầu tư các khu nông nghiệp công nghệ cao mở rộng trong lĩnh vực thủy sản, trồng trọt, chế phẩm sinh học, chăn nuôi (heo, bò, gà và dê), giống và bảo quản sau thu hoạch. Đồng thời, đầu tư phát triển Trung tâm Công nghệ sinh học Thành phố nhằm đáp ứng công tác nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp.