Buổi chiều, Nam đang ngồi ngang ngạch cửa nghịch con búp bê cũ bằng nhựa, nó xoay ngược đầu rồi lên dây thiều, con búp bê lất khất đi giật lùi như gã say rượu. Nó khoái chí vỗ tay cười khúc khắc. Đúng lúc ấy ba nó về tới, người sặc sụa mùi rượu, đôi mắt đỏ hoạch như tôm luộc, chân bước quàng xiên. Ông đá con búp bê văng vô góc nhà, miệng không ngớt kêu tên má nó nghe rất dữ tợn. Nam sợ hãi bò vô kẹt tủ, ngồi im thin thít. Nó nghe thấy tiếng chân má nó từ nhà dưới đi lên, hấp tấp, vội vã. Rồi tiếng la hét của ba nó, tiếng đấm đá thùi thụi, tiếng rổn rảng đổ bể. Một lúc sau mới nghe tiếng má sụt sùi khóc. Hình như không ai nhớ đến nó. Trong cái kẹt tủ tối om, Nam ngồi đái vãi ra quần, ướt nhẹp cả một khoảng nền nhà bằng đất. Nó lấy chân day day láng lình chỗ đất ướt rồi ngủ thiếp đi. Đó là một vết cứa hằn sâu vào ký ức tuổi thơ của Nam, một con bé ba tuổi. Một vết thương chưa bao giờ lên da.
Năm học lớp 2, cô giáo dạy lớp Nam tên Vĩnh, ở thành phố mới theo chồng là thầy Thành về quê. Cô nhỏ nhắn, đẹp và hiền. Một bữa, cô tới lớp mang theo một vệt bầm to ở một bên má. Cô Vĩnh bị chồng đánh. Nam nghe loáng thoáng mấy cô giáo thì thầm với nhau. Về nhà nó nằm suy nghĩ cả đêm. Thì ra không phải chỉ có “dân thường” như má nó mới bị chồng đánh. Cô giáo cũng bị. Không phải chỉ có “dân thường” như ba nó mới đánh vợ. Thầy giáo cũng đánh. Nó bắt chước má nằm gác tay lên trán “ứ hự”. Nghĩ xuôi nghĩ ngược tới lúc con gà trống thiến ngoài ngọn rơm gáy te te mấy hiệp, nó cũng mới nghĩ được có mỗi một chuyện: Làm con gái chán thiệt!
Trưa tháng Giêng, nóng như thể ông trời bưng nguyên mẻ lửa hất xuống trần gian. Ngọn cây im phăng phắc. Mặt sân lấp loáng nắng. Không đi làm cỏ lúa nổi, má ở nhà đè Nam ra bắt chí. Má bỏ con chí vô miệng cắn bụp. Nam nhăn mặt: “Sao má cắn chí máu me xịt đầy trong miệng, ghê thấy bà”. Má quay ra phun phẹt xuống đất một ngụm nước miếng đầy chí: “Thì nó cắn mình, mình phải cắn lại nó chớ”. “Ủa vậy sao ba đánh má, má không đánh lại ổng, chỉ toàn khóc hu hu” - nó hỏi. Má đánh trống lảng đẩy nó ra, biểu đi cắt tóc để thôi chí đẻ có bầy. Nó vừa đi vừa nghĩ ngợi, thấy thương má. Sau đó, hình như nó còn nghĩ thêm cái gì nữa. Nó quyết định vô chỗ chú Đoan, biểu chú húi cua ba phân cho nó. Chú Đoan trợn mắt: “Má mày biểu thiệt hôn?”. “Thiệt mà chú” - nó trả lời tỉnh rụi.

Nó về, má thấy cười ngất: “Được đó, đỡ mất công tao bắt chí. Khỏe”. Từ ngày húi cái đầu lên ba phân, tự nhiên nó thấy mạnh mẽ, tự tin trước bọn con trai. Nó thấy phải có bổn phận san bớt những công chuyện nặng nhọc trong nhà với má. Phải có trách nhiệm bênh vực che chở cho đám con gái. Nó muốn chứng tỏ mình với lũ con trai trong xóm. Nó mặc quần xà lỏn áo thun, ra ruộng đá banh ình ình, nhảy xuống sông lội như ráy. Mấy bà trong xóm nói với nhau con Nam bày đặt “làm con trai”. Nam thây kệ. Miễn sao không bị tụi con trai ăn hiếp là nó khoái rồi.
Học xong lớp 5 thì trường hết lớp. Thay vì theo má học cấy, nó chặt nhánh trâm bầu về đẽo cái cù nèo, theo ba đi phát cỏ bờ. Ra ruộng, nó xin ba cho thử dắt trâu cày. Đôi trâu sùm sùm lôi nó hất ngửa ra sau. Mình mẩy nó như con trâu nằm vũng.
Mùa gặt năm đó, còn đúng ba bữa nữa là tới trận đá chung kết với mấy đứa xóm đình. Tự nhiên sáng ngủ dậy, Nam nghe cơ thể mệt mỏi, cái bụng dưới nằng nặng. Nó bước xuống giường. Hình như có cái gì ươn ướt. Khum xuống vạch tới vạch lui. Không bị con gì cắn. Cũng không thấy thương tích chỗ nào. Nó kéo quần lên, trở vô nhà nằm thở thoi thóp. Bỗng Nam nhớ tới chị Quyên. Chị Quyên là con cô Tư. Chỉ đi học trên thành phố, mới về chơi hôm qua. Nam lật đật băng tắt đường đồng qua nhà cô Tư.
- Nhưng mà ba bữa nữa em phải “ra sân” rồi. Đá tiền đạo chớ đâu có giỡn. Làm sao hoãn được. Em sân sẩn vầy nói bịnh sao tụi nó tin. Có cách gì hôn chị Quyên?
- Thì chị cắt nghĩa em nghe hết rồi đó. Mấy bữa như vậy không được tắm sông với lại đá banh. Mỗi tháng có mấy ngày phải cữ chớ. Con gái lớn rồi…
- Chị giống má em quá. Động tới là con gái, con gái. Chị có cách nào chỉ em đi.
Chị Quyên lưỡng lự một hồi:
- Cái này là bài thuốc dân gian, tao nghe người ta bày chớ chưa thử lần nào, không biết có hiệu nghiệm không à nghe.
Nam ực một hơi cạn tô nước rau răm. Lưỡi nó cay xè, một hồi mình mẩy nóng rân, mặt mày hừng hực. Nó hoảng quá. Chị Quyên an ủi: “Hổng sao đâu!”. Mà không sao thiệt. Lại còn hiệu nghiệm nữa chớ. Trận đó, đội của nó thắng đội xóm Đình ba - một. Mấy cọng rau răm tưởng chỉ để ăn hột vịt lộn ai dè… Thôi vậy cũng hay. Nam móc sình thảy vô cái mương cạn sau hè, dâm rau răm để tới tháng khỏi mất công đi kiếm. Chị Quyên nói phải có cái đó mới thành con gái chớ (để phân biệt với con nít). Nam vùng vằng: “Mệt! Em hổng muốn làm con gái”.
Muốn hay không thì mấy mùa gặt sau đó Nam cũng trở thành thiếu nữ. Nó đã biết nấu trái bồ kết gội đầu, bắc ghế ra hè ngồi hong tóc. Những đêm trăng, ngó ra cánh đồng mông quạnh, nằm nghe tiếng nước chảy ngoài khe róc rách, tiếng gió giật mấy tàu lá chuối te sau hè giãy lên phành phạch, Nam đã biết buồn buồn, nhớ nhớ xa xôi. Đám con trai trong xóm không biết tự khi nào, chiều chiều đã không còn í ới Nam ơi, Nam hỡi đi đá banh nữa. Đám rau răm dưới mương cạn được dịp bò tràn lên bờ. Mấy lần bị má Nam nhổ bỏ nhưng chỉ một trận mưa xuống là chúng lại đâm tược xanh dờn, không bao lâu tiếp tục um tùm tràn bờ. Má lại nhổ bỏ. Tức mình, má cằn nhằn:
-Trồng thứ quỷ này làm gì.
- Thì đó, tại cây cải về trời bỏ nó lại một mình, nó mới phải chịu lời đắng cay đó má.
- Con này, nói nghe ngộ dữ.
Không bao lâu sau, má cũng làm cây cải nhưng má không bỏ rau răm ở lại. Cái mương cạn sau hè từ đó chỉ mọc toàn cỏ dại. Rau răm đã theo má về chốn xa xăm của trời. Nó không ở lại chịu lời đắng cay nữa. Bởi vì bao nhiêu cay đắng của rau răm, suốt một thời niên thiếu, Nam đã dại dột nuốt cả vào trong bụng.
Mấy năm sau ngày lấy chồng, Nam mới biết cái trò dại dột ấy đã vĩnh viễn cướp đi của Nam thiên chức mà tạo hóa chỉ dành riêng cho người phụ nữ, đó là sinh con. Nỗi đau đớn, tuyệt vọng và tâm trạng của một người có lỗi cứ róng riết bám lấy Nam. Nàng tự thu mình lại như cái bóng trong ngôi nhà không có tiếng khóc trẻ thơ ấy. Ban đầu, mỗi lần chứng kiến cảnh chồng nàng vụng về che giấu nỗi khát khao về một đứa con, Nam càng thương chồng. Nàng hết lòng chăm sóc, chiều chuộng như để bù đắp cho anh nỗi mất mát lớn lao ấy. Nhưng càng về sau, Nam càng chìm dần vào nỗi sợ hãi tuyệt vọng và cuối cùng mòn mỏi buông xuôi. Nàng trở thành người đàn bà “chưa già đã trái tính trái nết”. Chồng nàng hay nói vậy. Lần đó, Nam cũng không nhớ mình đã trả treo câu gì. Chỉ nhớ nàng đã hứng nguyên cái bạt tai nháng lửa của chồng cùng lúc với một tia chớp rạch ngang bầu trời và cơn mưa sầm sập đổ xuống. Nàng lao ra cửa, mưa và nước mắt cuốn nàng đi…
Cuộc đời giống như một con tàu với đủ mọi loại chỗ ngồi nhưng không phải ai cũng có thể ngồi đúng vào chỗ mình muốn. “Triết lý” này nàng đã ngộ ra được từ cái đêm mưa ấy. Sau này, mỗi khi nhớ lại, Nam thường hay đặt tay lên má mình thầm cảm ơn số phận. Cái tát tai đó đã mãi mãi cắt lìa sợi dây ràng buộc mong manh giữa hai con người mà đã nhiều lần vì yêu chồng, Nam cứ cố níu giữ. Nàng không thể làm mẹ nhưng chồng nàng, anh ấy hoàn toàn có khả năng làm cha, sao lại để anh phải vì nàng mà liên lụy? Ý nghĩ đó làm Nam cảm thấy thanh thản. Vậy mà sáng nay, khi nghe tin cô vợ mới của chồng vừa sinh con, Nam đã không giữ được bình tĩnh. Thoạt đầu là hờn dỗi, ghen tuông. Sau thấy mình vô cớ, Nam buồn bã xót xa. Giờ đây khi mọi cảm xúc lắng xuống, nàng thèm biết bao một giấc ngủ vùi.
Trong cơn mơ Nam thấy lại hình ảnh một xóm nghèo với rải rác mấy căn nhà lá đơn sơ nằm chơi vơi giữa một cánh đồng. Ở đó mưa buồn và nắng cũng buồn. Chỉ có gió, gió đồng thơm tho mùi lúa chín, mùi rơm rạ, sình bùn. Gió mang theo về tiếng reo vui réo rắt. Gió mang những cánh diều dệt đầy bao mơ ước trẻ thơ thả lên trời. Ở đó, có ngôi nhà với cái kẹt tủ tối om. Có tiếng khóc sụt sùi nhẫn nhịn của má. Có hình ảnh ba già xọm bèo nhèo, khóc ngân ngất ngày Nam đi lấy chồng. Ở đó, có cả vị nồng cay của tô nước rau răm xanh lè cùng thân phận con gái mà Nam từng chối bỏ.
Truyện ngắn của LƯƠNG GIA CÁT TƯỜNG