Kênh liên lạc ưu việt
Giữa năm 1969, tôi được cấp trên điều từ cụm B49, căn cứ đóng quân ở khu vực Bến Chùa thuộc Bến Cát - Bình Dương về công tác tại H67 thì Lĩnh và Hoa đã có thâm niên bám trụ tại mật khu "C" tới mấy mùa lá rụng.
Sau tết Mậu Thân, địch phản kích mãnh liệt trên toàn chiến trường miền Nam. Nếu chiến trường Đông và Tây Bắc Sài Gòn là trọng điểm tấn công hủy diệt của địch, thì rừng Bời Lời trở thành vùng trọng điểm của trọng điểm. Không ngày nào là không có càn quét, bom đạn, xe ủi cày bới, xe tăng chà xát, cả cánh rừng mênh mông biến thành một nông trường đất đỏ. Mọi sinh vật đều không thể tồn tại trên mặt đất. Tất cả đều phải sống theo hình thức "độn thổ". Mọi sinh hoạt, ăn, ngủ, làm việc đều ở dưới hầm. Mỗi bộ phận công tác phải xây dựng hầm ở và làm việc riêng, phân tán nhiều hướng theo kế hoạch bố phòng phục vụ bám trụ và phối hợp chiến đấu khi giặc càn tới.
Theo yêu cầu nhiệm vụ, H67 phải bám trụ tại mật khu "C" để giữ liên lạc với cấp trên, vì tất cả các cụm tình báo thuộc J22 đang trong thời điểm phải chuyển căn cứ bám trụ khỏi địa bàn Đông và Tây Bắc Sài Gòn để bảo toàn lực lượng. Hầu hết tin tức quan trọng từ các lưới điệp báo nội thành đều thông qua bộ phận Vô tuyến điện (VTĐ) của H67 để báo cáo về trung tâm. Vì vậy, các phiên liên lạc của bộ phận điện đài đã phải tăng thời lượng gấp hai, ba lần.
Nghề tình báo, công tác thông tin liên lạc giữ vị trí cực kỳ quan trọng. Báo cáo gửi về trung tâm được thực hiện bằng nhiều hình thức: chuyển giao trực tiếp, qua "hộp thư chết" (địa điểm bí mật giấu tài liệu), qua điện đài… Song, hình thức thông tin qua điện đài là ưu việt nhất. Nó đảm bảo thời gian nhanh nhất, bí mật nhất, an toàn nhất, bởi mỗi bức điện được phát lên không trung đều thông qua mã hóa của bộ phận cơ yếu. Vì vậy, có thể nói 100% các bức điện được phát lên không trung đối phương đều thu được hết, nhưng họ mù tịt nội dung. Đó là chiến công tuyệt vời của ngành cơ yếu Việt Nam.
Tuy nhiên, liên lạc qua VTĐ có cái nhược điểm cơ bản của nó là dễ lộ địa điểm phát sóng. Chỉ cần thông qua phương pháp giao hội 3 điểm là đối phương có thể xác định được nơi đặt đài phát. Nếu hoạt động trong lòng địch, địa điểm đặt máy sẽ bị phong tỏa, bị bắt tức thì; nếu ở vùng căn cứ, sẽ bị phi pháo hủy diệt.
Bản tin tối khẩn
Mười năm công tác ở chiến trường "B". Có một thời gian rất dài tôi đảm nhiệm công tác cơ yếu và tổng hợp báo cáo của các lưới điệp báo nội thành, nên rất rành về độ khẩn của các bức điện. Nó được quy định thành 3 chế độ: khẩn, thượng khẩn và tối khẩn. Những bức điện có chỉ định chế độ tối khẩn thì bằng mọi giá, bộ phận VTĐ phải phát đi ở phiên liên lạc gần nhất với thời gian nhanh nhất. Những phiên liên lạc như thế, anh em trinh sát phải đảm nhận trách nhiệm theo dõi máy bay trinh thám của địch nhằm chống kế hoạch giao hội mục tiêu; nhân viên cơ công phải túc trực cùng hiệu thính viên, đề phòng trục trặc kỹ thuật là sửa ngay. Vì vậy, anh em thường đùa vui "điện đài gắn bó với cơ công như bóng với hình" là vậy.
Lần ấy, có một báo cáo ngắn nhưng hàm chứa nội dung rất quan trọng của một cán bộ nội thành, ký bí danh là Hai Trung (người của đơn vị bạn). Cụm trưởng Bảy Vĩnh đã chỉ đạo chế độ tối khẩn. Ông còn chua thêm "phải lên sóng với thời gian sớm nhất". Bộ phận cơ yếu đã mã hóa thành 5 bức điện, mỗi bức chừng 100 nhóm điện. Giờ liên lạc vào 10 giờ đêm. Đúng vào cái đêm pháo địch từ các cứ điểm Chà Rầy, Đồng Dù… thay phiên nhau dội tới, dấu hiệu của một trận càn lớn sẽ diễn ra vào ngày hôm sau. Bầu trời mật khu không mấy lúc ngớt tiếng máy bay trinh thám, thành thử có 5 bức điện mà nhịp ma níp của Vũ Minh Lĩnh phải ngừng tới mấy chục lần.

Đài trưởng Vũ Minh Lĩnh, hàng đứng (bìa trái) và tác giả, hàng ngồi (giữa)
Sang tới bức điện cuối cùng thì sự cố xảy ra, máy mất tín hiệu. Cơ công Nguyễn Thị Hoa mày mò tìm mãi mà không ra "bệnh lý". Bỗng dưng Vũ Minh Lĩnh vọt lên khỏi miệng hầm trong lúc pháo địch vẫn nổ ì ầm trên đó. Mọi người ngơ ngác nhìn theo mà không kịp ngăn cản. Mấy phút sau Lĩnh trở lại, đầu tóc đầy bụi đất, nhe răng cười: "Nó xơi tái cái cột ăng ten. Nếu không… thì có mà đến tết cũng không liên lạc được". Nhịp ma níp lại vang lên cho tới nhóm điện cuối cùng.
Tình huống bất ngờ
Cuối tháng 12 năm đó, đơn vị nhận được chỉ thị của J22: "Các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ di chuyển căn cứ khỏi vùng trọng điểm. H67 nhanh chóng chuyển căn cứ bám trụ về Bến Tre. Địa điểm cụ thể do đơn vị tự quyết định sau khi đã khảo sát địa hình. Đường chuyển quân rất khó khăn, phức tạp, cần chọn những đồng chí sức khỏe tốt, biết bơi lội, số còn lại chuyển anh em về "R" nhận nhiệm vụ mới… Toàn đơn vị với quân số gần 20 người (trừ số giao thông viên hợp pháp và cán bộ nội thành). Cấp ủy và lãnh đạo cụm họp gấp bàn về nhân sự. Hầu hết nằm trong danh sách về địa bàn mới, số về "R" chỉ 3-4 người, trong đó có cơ công Nguyễn Thị Hoa. Sau khi công bố danh sách, người đi thì vui mừng, hồ hởi, còn người chuyển về "R" thì vẻ mặt buồn thiu. Nói thế, nhưng quan sát kỹ "đoàn hùng binh" tôi vẫn nhận ra một gương mặt có vẻ trầm tư, đó là Đài trưởng Vũ Minh Lĩnh.
Tôi đã có ý định gặp riêng để tìm hiểu tâm tư đồng đội, thì tối hôm đó Lĩnh sang hầm tôi. Phải đắn đo lâu lắm cu cậu mới cất thành lời: “Có một việc em xin ý kiến anh… thú thực, em và Hoa yêu nhau… vì chia tay đột ngột quá nên chúng em muốn được công khai việc này trước đơn vị. Nhờ anh nói giúp với chú Bảy cụm trưởng” - “Cha!... vậy mà giữ kín thế. Nói với ông Bảy thì dễ ợt. Quan trọng là các cậu định công khai như thế nào?”...
Lặng im giây phút, Lĩnh lại rủ rỉ: "Đơn vị chỉ có mấy anh em miền Bắc, em coi anh như anh cả, nên như thế nào nhờ anh tính giúp".
Sáng sớm hôm sau tôi gặp Cụm trưởng Bảy Vĩnh ngay. Tôi vừa dứt lời, thì ông khẽ cười rồi phán luôn: "Chúng nó đã yêu nhau thì trước khi chia tay cho tổ chức cưới luôn. Đánh Mỹ lâu dài, đời cha đánh chưa xong thì đời con, đời cháu đánh tiếp".
Tôi ngỡ ngàng nhìn cụm trưởng: "Anh Bảy nói tổ chức cưới ngay ở đây?" - "Chứ sao! Cần chi phải cầu kỳ. Nói thế, nhưng cũng phải chu đáo một chút để chúng nó đỡ tủi thân. Việc này tôi giao đồng chí tổ chức thực hiện".
Quả là một tình huống quá bất ngờ. Một cuộc họp đột xuất giữa các bộ phận công tác và Đoàn thanh niên. Khi được thông báo tin này, anh em rất vui và nhất trí với phương án mỗi người ủng hộ một tháng phụ cấp tiêu vặt để mua quà tặng cô dâu. Phụ cấp bình quân mỗi người chỉ có mấy chục đồng tiền Sài Gòn lúc đó, tương đương với mấy chục ngàn bây giờ. Ấy vậy mà cũng đủ mua được một đôi hoa tai tới một chỉ rưỡi (1,5 chỉ) vàng 24 kara hẳn hoi. Vì vàng thời đó rất rẻ. Tiền còn lại cộng với đơn vị tặng một ít cũng đủ mua mấy gói bánh quy, mấy gói kẹo, mấy gói thuốc ruby và một ít chè… Nghĩa là đủ lễ bộ một đám cưới đời sống mới. Việc này cụm trưởng giao cho chị Tư Chiến, giao thông viên hợp pháp thực hiện.
Đám cưới của họ được tổ chức vào tối hôm sau, ở ngay dưới hầm "hội trường" của đơn vị. Đó là căn hầm bí mật được xây dựng rộng rãi, đủ sức chứa cho gần 20 người. Bàn ghế được bện bằng cây rừng và trải áo đi mưa lên trên. Bánh kẹo bày luôn xuống mặt bàn, bởi làm gì có đĩa. Chè (trà) pha luôn vào nồi nấu cơm, rồi múc ra bát ăn cơm của mỗi người. Cái khó nhất của công tác tổ chức lúc ấy là việc trang trí phòng cưới. Nhất định là phải có khẩu hiệu dán hai bên vách hầm và phải có bình hoa. Cái khoản khẩu hiệu, tiếng thế nhưng cũng không khó lắm, chỉ cần mấy tờ giấy màu và mấy viên phấn trắng là xong. Việc này cũng giao cho bộ phận giao thông đảm nhiệm.
Tôi nhận phần viết khẩu hiệu. Thực tình cái khoản viết phăngtêdy trên giấy khổ to tôi trình bày "hơi bị được". Sau khi ghim hai khẩu hiệu lên vách hầm, một bên là "Vui duyên mới không quên nhiệm vụ"; và một bên bằng hai câu lục bát: "Lĩnh Hoa xây dựng gia đình - Vui trong duyên mới thắm tình Bắc Nam". Ngắm hai khẩu hiệu, mọi người đều tấm tắc khen, có người còn bốc lên đậm màu hài hước: "Đẹp, đẹp thiệt. Sau này đất nước hòa bình, anh Ba chỉ cần đi viết khẩu hiệu thuê cho các đám cưới cũng đủ sống…".
Cái nhiêu khê nhất còn lại, đó là bình hoa cưới. Đào đâu ra hoa giữa cánh rừng xơ xác bởi đạn bom của địch hủy diệt tới bao lần. Cũng may, chiều hôm ấy là một buổi chiều yên tĩnh, không có bom, pháo. Anh em bung ra nhiều hướng để tìm hoa, với tinh thần gặp hoa gì cũng hái, kể cả hoa mua. Sau hơn một giờ tìm kiếm, anh em đem về được mấy bó hoa, nhưng toàn là hoa mua. Rất mừng là cánh về sau cùng lại vớ được mấy cành mai nhỏ, loại mai nở sớm. Có lẽ đó là những cành mai may mắn còn sót lại ở rừng mật khu.
Tuần trăng mật của họ vẻn vẹn có 2 ngày. Tới ngày thứ 3, đúng chuyến giao liên, cô dâu Nguyễn Thị Hoa lên đường về "R" và cách một ngày sau đó, chúng tôi, cố nhiên là có cả chú rể Vũ Minh Lĩnh từ biệt rừng mật khu, từ biệt chiến trường miền Đông Nam Bộ về địa bàn mới, vùng sông nước Bến Tre, xa xôi tít tắp.
Bao năm gắn bó với chiến trường miền Nam, trong ký ức tôi đã hằn sâu bao kỷ niệm, trong đó có kỷ niệm về đám cưới của đồng đội tôi ngày ấy.
Bây giờ, sống giữa phố thị phồn hoa, giữa cảnh đất nước thanh bình, tôi từng tham dự hàng trăm đám cưới ở nhiều nhà hàng, hội trường, khách sạn sang trọng, ở cái thời người ta đua nhau chạy theo mốt cưới, với dẫy đầy sự xa hoa, lãng phí, có những lúc trong tiệc vui mà tôi như kẻ mộng du, thả hồn về nơi phương trời xa lắc để nhớ về đồng đội mình, nhớ về những đám cưới nơi chiến trường máu lửa.
Theo Khổng Minh Dụ (ANTG)