Hôm nay (19-1), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chính thức khai mạc. Đại hội lần này đề ra nhiều mục tiêu chiến lược cho giai đoạn phát triển mới, trong đó có sức mạnh tổng hợp quốc gia với hạt nhân là sức mạnh về kinh tế. Bước vào kỷ nguyên mới với tâm thế của một “ngôi sao sáng” về phục hồi kinh tế, Việt Nam đang đứng trước khát vọng chinh phục mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, GS-TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, cho rằng đây là thời điểm vàng và cũng là cơ hội then chốt để đất nước bứt phá khỏi bẫy thu nhập trung bình trước khi dân số già hóa.
Khơi dậy động lực, tạo nền tảng vững chắc
. Phóng viên: Nhìn lại biểu đồ tăng trưởng kinh tế trong nhiệm kỳ qua, ông đánh giá như thế nào về những nỗ lực vượt khó của nền kinh tế nước ta trước bối cảnh nhiều biến động?
+ GS-TS Hoàng Văn Cường: Nhiệm kỳ khóa XIII diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới chịu những tác động rất khó khăn. Đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp và để lại hậu quả nặng nề ngay từ đầu nhiệm kỳ khiến kinh tế toàn cầu có lúc tăng trưởng âm. Kế đến là những mâu thuẫn địa chính trị và các cuộc chiến tranh thương mại làm kinh tế thế giới phục hồi rất chậm.
Ở trong nước, chúng ta cũng đối mặt với những khó khăn riêng, nhất là diễn biến thiên tai khắc nghiệt… Tất cả điều này tạo thành rào cản rất lớn cho sự tăng trưởng.
Tuy vậy, nhìn vào biểu đồ tăng trưởng, chúng ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tốt, được đánh giá là “ngôi sao sáng” trên bầu trời kinh tế thế giới. Điển hình như giai đoạn đại dịch, dù thế giới tăng trưởng âm nhưng Việt Nam vẫn đạt 2,58% (năm 2021).
Sau đại dịch, kinh tế thế giới phục hồi rất chậm và lạm phát cao nhưng Việt Nam đã có sự tăng trưởng khá đều. Cụ thể, năm 2022, khi bắt đầu khống chế được dịch, tăng trưởng GDP chúng ta đạt 8,02% so với năm 2021, năm 2023 đạt 5,05%, năm 2024 đạt 7,09% và năm 2025 đạt 8,02%.
Điều này cho thấy sau đại dịch, nền kinh tế Việt Nam phục hồi với tốc độ tăng liên tục ở mức cao (5%-8%). Đây là con số hiếm có trên thế giới, chứng tỏ đà phục hồi khá ổn định và có tiềm lực vững chắc để tạo ra tốc độ tăng trưởng.
Đó cũng chính là những cơ sở để chúng ta kỳ vọng giai đoạn tới sẽ tiếp tục khơi dậy được các động lực và đạt tốc độ tăng trưởng hai con số như mục tiêu đề ra. Đặc biệt, những động lực truyền thống như đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng đều được duy trì khá tốt với những giải pháp linh hoạt, góp phần tạo tăng trưởng ổn định trong những năm qua.
Thêm vào đó, Việt Nam đang rất chú trọng thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới. Cụ thể là đầu tư cho khoa học công nghệ (KHCN), kinh tế số, chuyển đổi số, phát triển các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI) và các ngành mới nổi. Điều này cho thấy chúng ta vừa duy trì, khai thác và phát huy tốt động lực truyền thống, vừa tích cực thúc đẩy những động lực mới.
Đầu tư mạnh cho khoa học công nghệ
. Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong kỷ nguyên mới được đánh giá là khát vọng lớn. Vậy đâu là cơ sở thực tiễn để chúng ta đặt niềm tin vào khả năng này?
+ Như tôi đã phân tích ở trên, rõ ràng chúng ta có những cơ sở vững chắc. Chúng ta luôn biết cách tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức để đạt được những kết quả ấn tượng. Thực tế chứng minh nhiều địa phương đã đạt được tốc độ tăng trưởng rất cao, chạm mức hai con số, thậm chí lên tới 15%...
Hiện Việt Nam đang có chủ trương đầu tư rất mạnh mẽ vào KHCN, đổi mới sáng tạo. Chúng ta tích cực đưa các công nghệ mới vào sản xuất, phấn đấu làm chủ công nghệ để chuyển dịch lao động từ khu vực giá trị gia tăng thấp sang khu vực có giá trị gia tăng cao, qua đó tăng năng suất lao động xã hội.
Một thế mạnh khác là tiềm năng về nguồn nhân lực công nghệ số. Công cuộc chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, không chỉ ở thế hệ trẻ mà mọi tầng lớp nhân dân đều thích nghi nhanh chóng, thể hiện rõ nét nhất qua thói quen thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến.
Đặc biệt, với khát vọng vươn lên, Đảng ta rất quyết tâm, kiên định với mục tiêu này thông qua việc hoạch định thể chế, chính sách và đường lối mạnh mẽ. Điều này cho thấy một cuộc cải cách lớn về thể chế và tư duy luật pháp, hứa hẹn mở đường cho giai đoạn đột phá về quản lý kinh tế. Khi “ý Đảng hợp lòng dân”, người dân và doanh nghiệp sẽ đồng lòng, hợp sức cùng tạo ra sự phát triển chung.
Thời điểm vàng để bứt phá
. Có ý kiến cho rằng giai đoạn tới là cơ hội cuối cùng để Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình. Nếu không đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số ngay bây giờ sẽ khó thực hiện được nữa?
+ Kinh nghiệm thế giới chỉ ra rằng muốn vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước có thu nhập cao, các quốc gia đều phải đạt tăng trưởng hai con số liên tục trong khoảng 5-7 năm. Nếu không có giai đoạn phát triển bứt phá, cứ giữ ở mức 5%-6% thì nền kinh tế sẽ giậm chân tại chỗ. Do vậy, để Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, bắt buộc phải đạt tăng trưởng hai con số và duy trì trong 5-7 năm hoặc 10 năm liên tục, sau đó sẽ duy trì ở mức tăng trưởng đều.
Muốn như thế, tôi cho rằng chúng ta phải dựa trên một mô hình tăng trưởng mới. Bởi nếu cứ dựa vào gia công, lắp ráp, các hoạt động sản xuất nằm ở khu vực có giá trị gia tăng thấp dẫn đến năng suất lao động thấp thì mục tiêu này khó thành hiện thực.
Vì vậy, chúng ta phải tạo ra những động lực tăng trưởng mới, thay đổi mô hình tăng trưởng để không chỉ đuổi kịp mà còn ngang hàng với các nước đi trước. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam dựa vào KHCN, đổi mới sáng tạo, sử dụng những thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 bứt phá vươn lên.
Nếu chúng ta bỏ lỡ thời điểm này để chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên những thành tựu của KHCN sẽ bỏ qua cơ hội phát triển, nhất là thời kỳ dân số vàng. Khi chuyển sang thời kỳ dân số già mà chưa bứt phá được chúng ta sẽ giậm chân tại chỗ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Chú trọng tới các động lực mới
. Với mục tiêu tăng trưởng đầy khát vọng nêu trên, hẳn sẽ có không ít khó khăn, thách thức cần nhận diện, thưa ông?
+ Rõ ràng để năm 2026 đạt ngay mục tiêu tăng trưởng 10% là rất khó. Lý do là nền tảng năm 2025 chúng ta chỉ đạt hơn 8%, trong khi các động lực truyền thống hiện đã được khai thác tối đa, gần chạm ngưỡng. Nói đơn giản, tăng trưởng năm qua chủ yếu nhờ xuất khẩu nhưng hiện không còn nhiều dư địa, đầu tư cũng đã đạt đến giới hạn. Một dư địa nhỏ còn lại trong động lực truyền thống chính là tiêu dùng cũng thông qua việc đẩy mạnh du lịch.
Chính vì vậy, năm 2026 muốn vượt qua thách thức phải làm mới động lực tăng trưởng cũ bằng cách khơi thông các nguồn lực, gỡ vướng pháp lý cho các dự án tồn đọng. Đồng thời, phải kết hợp giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân để huy động nhiều hơn các nguồn lực xã hội. Còn trong tiêu dùng cần phát triển du lịch để vừa khai thác thế mạnh vừa tạo ra thị trường tiêu dùng. Riêng về xuất khẩu, cần tái cấu trúc để tăng giá trị nội địa.
Tôi cũng đặc biệt lưu ý phải ưu tiên, chú trọng tới các động lực mới để chuyển đổi sang nền kinh tế mới dựa vào KHCN, làm chủ chuỗi giá trị trong các lĩnh vực mới.
. Giữa việc làm mới các động lực truyền thống và kích hoạt các động lực mới, nếu phải xác định thứ tự ưu tiên chiến lược cho giai đoạn 2026-2030, ông sẽ sắp xếp thế nào?
+ Chúng ta không thể bỏ qua những động lực tăng trưởng cũ bởi đó là nền tảng đang tạo ra nguồn lực phát triển rất tốt. Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn lực có hạn, cần xác định nguyên tắc tập trung, lựa chọn khu vực cốt lõi, nền tảng để đầu tư. Minh chứng là giai đoạn vừa qua, đầu tư công từ trên 10.000 dự án đã giảm xuống còn khoảng 4.000 dự án.
Song song đó, ưu tiên tập trung cao độ cho thúc đẩy động lực tăng trưởng mới, đầu tư mạnh vào KHCN, đổi mới sáng tạo và các hoạt động làm chủ lĩnh vực mới. Chẳng hạn, có thể tạo ra nguồn lực đầu tư cho các doanh nghiệp, tập đoàn lớn mạnh hơn để họ đủ sức làm chủ những lĩnh vực đầu tư mới, đi tắt đón đầu dẫn dắt nền kinh tế.
Dĩ nhiên, các lĩnh vực hạ tầng xương sống như đường sắt, dịch vụ biển, không gian ngầm… vẫn cần được chú trọng để tạo ra sức mạnh kết nối và mở rộng không gian phát triển cho nền kinh tế.
Kiến tạo, đồng hành
. Vậy vai trò của các đầu tàu như Hà Nội, TP.HCM được xác định như thế nào trong bài toán tăng trưởng GDP này?
+ Để đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, Việt Nam phải hướng vào hai yếu tố thúc đẩy then chốt. Đối với các ngành và lĩnh vực, cần lựa chọn kỹ xem sản phẩm, ngành hay khâu nào là cốt lõi để đầu tư đích đáng. Những lĩnh vực có thế mạnh phải được ưu tiên đầu tư để tạo ra sự phát triển tiên phong, bứt phá.
Về mặt lãnh thổ, chúng ta phải kiến tạo những cực phát triển. Những nơi có nhiều tiềm năng, lợi thế cần được tập trung nguồn lực cao độ. Thời gian qua, Quốc hội đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc thù cho những địa phương được xem là cực tăng trưởng như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Quảng Ninh hay Cần Thơ.
Những địa phương này sẽ đóng vai trò dẫn dắt với tốc độ tăng trưởng rất cao, không chỉ dừng ở mức 10% mà phải vượt trên con số đó. Có như vậy mới đủ sức đưa tốc độ tăng trưởng chung của cả nước đi lên, tạo lực kéo lan tỏa giúp các vùng lân cận cùng phát triển.
. Năm 2025 đánh dấu sự ra đời của nhiều chính sách chiến lược, bao gồm các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị và sắp tới sẽ còn thêm các nghị quyết mới. Ông kỳ vọng gì vào những quyết sách này trong kỷ nguyên mới?
+ Các nghị quyết của Đảng được ban hành đã chỉ rõ đường hướng, quan điểm, tư tưởng và lối đi cho sự phát triển đột phá. Trên cơ sở đó, Quốc hội luôn đồng hành để xây dựng các khuôn khổ pháp lý, thể chế hóa thành cơ sở thực tiễn để thực thi hành động.
Rõ ràng những nghị quyết và đường lối này không đơn thuần chỉ là kim chỉ nam định hướng mà còn trực tiếp trao cho các địa phương, các ngành và lĩnh vực những công cụ, cơ sở pháp lý cụ thể để hành động.
Tôi kỳ vọng rằng chính những định hướng chiến lược đó sẽ tạo bứt phá cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên. Đặc biệt là tạo đà bứt phá cho các chủ thể quan trọng như khu vực kinh tế tư nhân, giúp hình thành những doanh nghiệp, tập đoàn lớn mạnh đóng vai trò dẫn dắt nền kinh tế, đồng thời khơi thông nguồn lực để tạo sức bật cho khu vực kinh tế nhà nước.
. Xin cảm ơn ông.
Đảm bảo giữ ổn định kinh tế
Dù đặt ra mục tiêu tăng trưởng nhanh nhưng Việt Nam luôn kiên định nguyên tắc phải đảm bảo giữ ổn định kinh tế. Quan điểm xuyên suốt là không đánh đổi sự ổn định để lấy tăng trưởng thuần túy. Bởi nếu chỉ chạy theo con số mà để lạm phát cao, nguy cơ khủng hoảng chực chờ thì sự tăng trưởng ấy không mang lại giá trị thực, cuộc sống người dân vẫn khó khăn và doanh nghiệp không thể sản xuất hiệu quả.
Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng giữ ổn định vĩ mô một cách cứng nhắc. Thay vào đó, phải lấy tăng trưởng để tạo tiềm lực thúc đẩy tăng trưởng tiếp theo và dùng chính tiềm lực đó để ổn định vĩ mô.
Khi nền kinh tế vĩ mô ổn định, người dân và doanh nghiệp mới sẵn sàng đầu tư, từ đó tạo ra tăng trưởng và củng cố thêm tiềm lực. Đây là lý do Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong nhiều lần chỉ đạo đã nhấn mạnh yêu cầu phải điều hướng dòng tiền vào các khu vực sản xuất thực chất, kiên quyết không để dòng tiền chảy vào các kênh tích trữ tài sản hay đầu cơ, gây ra tăng trưởng nóng và những rủi ro bong bóng trong ngắn hạn.
GS-TS HOÀNG VĂN CƯỜNG
*****
Ý KIẾN
TS TRẦN DU LỊCH:
Cần tăng trưởng 10% trong thời kỳ dân số vàng
Sau dịch COVID-19, nước ta tập trung ba trụ cột tăng trưởng truyền thống gồm thị trường nội địa, xuất khẩu, đầu tư công. Việc này để dẫn dắt và đã đạt kết quả khá thành công khi phục hồi kinh tế hậu COVID-19.
Dù kinh tế thế giới khó khăn, tăng trưởng chậm nhưng Việt Nam tăng trưởng khá mạnh với 8% vào năm 2025. Đây là tiền đề hướng đến mục tiêu 10% trong thời gian tới.
Vừa qua, chúng ta tăng xuất khẩu khá mạnh, thặng dư cao nhưng tỉ lệ nội địa hóa các sản phẩm xuất khẩu còn quá thấp, thậm chí một số lĩnh vực xuất siêu nhưng hưởng lợi rất ít. Hiện nay động lực xuất khẩu đã gần đến giới hạn, do vậy cần tính toán cho vấn đề này.
Về động lực đầu tư, đầu tư công vẫn đang dẫn dắt, kích cầu đầu tư tư nhân. Tháng 12-2025, cả nước đồng loạt khởi công 234 công trình với quy mô vốn hơn 3,4 triệu tỉ đồng, trong đó trên 80% là đầu tư tư nhân. Vì vậy, cần phát huy vai trò đầu tư công trong thúc đẩy đầu tư tư nhân bằng cách ưu tiên một số lĩnh vực trọng điểm.
Bên cạnh làm mới các động lực cũ, cần tập trung các động lực mới mà chìa khóa là KHCN, đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng kỷ nguyên số; đồng thời kiến tạo thể chế cạnh tranh. Vừa qua, Quốc hội đã sửa nhiều luật, xây dựng thể chế. Nếu những thể chế này phát huy tác dụng thì có thể hướng dến tăng trưởng hai con số.
Để tăng trưởng kinh tế, cần áp dụng phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Cái “bất biến” là giữ vững ổn định vĩ mô. Cái “vạn biến” là sự phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài khóa và tiền tệ để khơi thông dòng vốn. Phải hướng dòng tín dụng vào “kinh tế thực” như sản xuất, hạ tầng, logistics, công nghệ... để cân bằng với kinh tế tiền tệ.
Cơ sở để lạc quan là Việt Nam buộc phải tăng trưởng 9%-10% trong hơn 10 năm tới trước khi kết thúc thời kỳ dân số vàng. Nếu không tận dụng được cơ hội từ kỷ nguyên số và giải quyết tốt bài toán mâu thuẫn này, chúng ta sẽ khó trở thành nước phát triển.
-----
PGS-TS TRẦN ĐÌNH THIÊN:
Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực
Chúng ta coi khu vực tư nhân là động lực tăng trưởng quan trọng, tất yếu nhưng cần làm rõ năng lực cạnh tranh đã đủ mạnh chưa, thể chế trói buộc với khu vực tư nhân đã được tháo gỡ thế nào?
Thực tế khu vực tư nhân Việt Nam đang yếu. “Điểm nghẽn của điểm nghẽn” chính là thể chế và trong ngắn hạn phải tập trung gỡ vướng pháp lý cho khoảng 3.000 dự án đang tồn đọng trị giá ước tính 6-7 triệu tỉ đồng. Việc giải quyết dứt điểm được vấn đề này sẽ khơi thông hàng loạt nguồn lực khác, tránh gây lãng phí.
Bên cạnh đó, cần phát huy cơ chế trao quyền cho các địa phương. Chẳng hạn như TP.HCM, nếu được trao quyền mạnh mẽ thì với cấu trúc kinh tế hiện tại sẽ giúp TP chuyển động mạnh mẽ.
Dĩ nhiên trao quyền phải gắn liền với trao trách nhiệm, từ đó giúp các địa phương chủ động nguồn lực, kể cả nguồn lực con người.
-----
PGS-TS TRẦN LÊ HƯNG, ĐH Gustave Eiffel, Pháp:
Động lực tăng trưởng mới là khoa học công nghệ
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026-2030 là một mục tiêu rất tham vọng, song không phải là phi thực tế nếu Việt Nam xác định đúng động lực và con đường phát triển.
Nếu Việt Nam tiếp tục dựa chủ yếu vào những động lực cũ, tôi cho rằng mục tiêu này sẽ khó khả thi. Ngược lại, nếu chúng ta chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên KHCN, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động thì tăng trưởng cao sẽ bền vững hơn trong trung và dài hạn.
Để hiện thực hóa, theo tôi, Việt Nam cần lấy KHCN làm nền tảng, đổi mới sáng tạo làm động lực và chuyển đổi số làm kết nối. KHCN phải được xác định là nền tảng lâu dài, tạo ra tri thức, công nghệ lõi và năng lực nội sinh cho nền kinh tế, giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trên nền tảng này, đổi mới sáng tạo là động lực thúc đẩy việc đưa các ý tưởng, mô hình và phương thức sản xuất, kinh doanh mới vào thực tiễn. Từ đó, nâng cao năng suất lao động, tăng chất lượng và tính đồng đều của sản phẩm, cải thiện đời sống người dân. Trong khi đó, chuyển đổi số giữ vai trò kết nối, giúp các kết quả nghiên cứu khoa học và sáng kiến đổi mới được lan tỏa nhanh vào đời sống.
Khi ba trụ cột này được triển khai đồng bộ, gắn chặt với thực tiễn doanh nghiệp và nhu cầu phát triển của đất nước, chúng sẽ tạo ra động lực tăng trưởng mới để Việt Nam bứt phá, tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.
THÙY LINH - LÊ THOA - BẢO PHƯƠNG ghi