Năm 1988, Osama Bin Laden sáng lập tổ chức Al-Qaeda ở Afghanistan, làm đầu mối cho những thành phần Hồi giáo cực đoan chống Mỹ, Israel và đồng minh, nhất là Mỹ - quốc gia từng tài trợ cho quân của Bin Laden đánh Liên Xô.
Tổ chức linh hoạt
Trên thực tế, chính quyền Mỹ phủ nhận việc tài trợ cho lực lượng của Bin Laden. Một số quan chức nói rằng họ chỉ hỗ trợ tài chính cho những chiến binh Hồi giáo Afghanistan, còn Osama Bin Laden không phải người Afghanistan (ông này mang quốc tịch Ả-rập Xê-út cho tới khi bị tước quốc tịch, năm 1994). Bên cạnh đó, với 500.000 người bản địa sẵn sàng chiến đấu chống Liên Xô thì đâu cần phải bỏ tiền thuê thêm chiến binh nước ngoài. Bản thân Bin Laden trả lời trong một cuộc phỏng vấn năm 1997 rằng “sự thất bại của Liên Xô… là nhờ ơn Thượng đế và những chiến binh ở Afghanistan, Mỹ chẳng có vai trò gì đáng kể”, tuy nhiên “thất bại của Liên Xô làm cho Mỹ trở nên kiêu ngạo hơn và hung hãn hơn”.
Tuy thế, đa số ý kiến vẫn cho rằng chính CIA chứ không phải ai khác đã tài trợ tiền, trang bị vũ khí và huấn luyện cho quân của Bin Laden. Năm 2005, cựu ngoại trưởng Anh Robin Cook viết: “Osama Bin Laden là sản phẩm của một phép tính nhầm lẫn đến kỳ cục của an ninh - tình báo phương Tây”.
Đầu những năm 1990, Al-Qaeda hoạt động chủ yếu ở Sudan. Kể từ năm 1996, Bin Laden bắt đầu xúc tiến quan hệ với quân Taliban và vì vậy, Al-Qaeda chuyển dần trụ sở cùng một loạt trại huấn luyện về Afghanistan.

Với tổ chức linh hoạt của Al-Qaeda, việc “xóa sổ” tổ chức này là điều cực khó. Trong ảnh: Tòa nhà nơi Bin Laden ẩn náu nằm ngay bên Học viện Quân sự là một bất ngờ đối với những thế lực săn đuổi.
Nguồn tin tình báo của phương Tây cho biết tại London, Hamburg, Milan và Madrid đều có những cơ sở bí mật của Al-Qaeda, nơi tuyển dụng nhân sự, gây quỹ và lên kế hoạch tấn công khủng bố. Còn việc đào tạo, huấn luyện chiến binh mới thì được tổ chức tại những nơi “vô luật pháp”, như Somalia, Yemen và Chechnya, vùng núi Afghanistan, hay vùng xa vùng sâu ở một hòn đảo nào đó thuộc Indonesia để có thể diễn ra một cách tự do thoải mái.
Tình báo cũng cho rằng tổ chức của Al-Qaeda rất linh hoạt để họ dễ dàng hoạt động xuyên châu lục. Các nhóm đều có tính độc lập rất cao, phải tự quyên tiền, gây quỹ và chỉ liên hệ với nhóm khác khi cần thiết.
Giáo lý “sống hay chết đều vinh quang”
Các tài liệu huấn luyện của Al-Qaeda rơi vào tay quân Mỹ giúp người ta hiểu thêm phần nào về “nội dung đào tạo” và “khả năng thu phục nhân tâm” của tổ chức này. Giáo lý Al-Qaeda luôn nhấn mạnh một số điểm. Chẳng hạn, trước tiên người chiến binh phải hoàn toàn tin tưởng rằng Thượng đế sẽ mang lại chiến thắng cho họ nếu họ vâng lời Ngài. Thứ hai, Thượng đế đã sắp đặt để “các quốc gia vô đạo” chống lại người Hồi giáo, làm nhục họ, đẩy họ xuống địa vị thấp kém; do đó mỗi người Hồi giáo phải thấy hổ thẹn, chết vì đau khổ nếu họ không ngăn chặn được những tai họa xảy ra đối với những người anh em, bà con cùng đạo của họ, mà ngăn chặn là phải thông qua thánh chiến (jihad).
Vậy, những chiến binh Hồi giáo trẻ tuổi mong chờ điều gì khi tham gia Al-Qaeda và tiến hành thánh chiến? Trong tài liệu của Al-Qaeda, một người tên là Shaykh Yusaf al-Alyiri viết: “Anh ta hướng đến một trong hai cái kết có hậu, đó là: hoặc chiến thắng, hoặc trở thành tử sĩ. Cho dù thế nào thì anh ta cũng vinh quang”. Các tín điều được lặp đi lặp lại: “Chiến binh Hồi giáo phải sẵn sàng làm cho kẻ thù của Thượng đế phát điên lên và phải tin rằng chiến thắng do Thượng đế mang lại là điều chắc chắn, như Ngài đã hứa hẹn”, “Chiến binh Hồi giáo không được lo lắng về tương lai”, “Điều gì phải xảy ra với ngươi thì sẽ xảy ra; nếu số phận của ngươi là phải bị giết, bị cầm tù, hay bị thương thì đó là số phận và có thận trọng cũng không cứu được ngươi khỏi số phận ấy”.
Các giáo lý cũng dạy rằng chiến binh Al-Qaeda không nhất thiết được toàn dân ủng hộ ngay từ đầu, khi mới xuất hiện ở nơi nào đó. Bởi vì khi ấy, họ còn đang là người ngoài cuộc đối với dân chúng sở tại, họ chưa chứng minh được với dân chúng là họ có thể bảo vệ họ như thế nào. “Chiến binh Hồi giáo phải lưu ý rằng phần đông mọi người đều bận kiếm sống và theo đuổi đời sống riêng. Nếu ý thức rõ điều này, họ sẽ nhận ra rằng trong rất nhiều trường hợp, họ không được ủng hộ mạnh mẽ, trừ phi Thượng đế muốn họ được ủng hộ”.
Kết quả của những khóa đào tạo, giáo huấn về kỷ luật, lòng mộ đạo, tình đoàn kết và lòng căm thù là tạo ra “một chiến binh anh dũng, sẵn sàng chiến đấu vì quốc gia Hồi giáo để bảo vệ tôn giáo, sự thiêng liêng, danh dự, dòng máu và tài sản của người Hồi giáo, đẩy lùi bất công và tàn bạo”.
Không còn “chủ nghĩa dân tộc”
Tuy thế, giáo lý của Al-Qaeda thừa nhận rằng có niềm tin chung cũng chưa chắc tạo ra được một tổ chức thống nhất. Một trong những yếu tố phá hoại tính thống nhất là sự thù hận giữa các chiến binh, hay các nhóm chiến binh với nhau, xuất phát từ… vấn đề quốc tịch, hay dân tộc. Abu Jandal, nguyên vệ sĩ của Osama Bin Laden, kể lại là vào cuối những năm 1990, ông ta từng nhận lệnh từ các lãnh tụ Al-Qaeda, phái ông ta sang các trại huấn luyện ở Afghanistan để hòa giải mâu thuẫn giữa những chiến binh xuất thân từ các dân tộc khác nhau. Thường đó là mâu thuẫn giữa người Ả-rập và người Ai Cập. Abu Jandal cũng nói rằng chính Osama Bin Laden từng bảo, muốn thắng Mỹ thì các chiến binh Al-Qaeda phải “siết chặt tình hữu nghị và xóa bỏ mọi phân biệt về khu vực địa lý”, “vấn đề quốc tịch phải bỏ hết ra ngoài tâm trí, chúng ta cần có một cái nhìn rộng hơn thế, tức là phải nhìn vào cộng đồng” (tiếng Ả-rập là “ummah”).
Dù thế nào, giới quan sát vẫn phải thừa nhận rằng những thứ giáo lý của Al-Qaeda đã tỏ ra rất có hiệu quả. Michael F. Scheuer, cựu sĩ quan CIA, cố vấn của một đơn vị truy tìm Osama Bin Laden, nhận định: Al Qaeda là một tổ chức thống nhất và có kỷ luật nhất trong cuộc “thánh chiến” với các siêu cường. Từ khi thành lập cho đến giờ, bất chấp mọi chiến dịch trấn áp của phương Tây, “con bạch tuộc” đã vươn cánh tay tới 40-50 nước ở Trung Đông, Đông Nam Á, Bắc Mỹ và châu Âu; và tiếp tục được hoan nghênh ở nhiều cộng đồng Hồi giáo.
Với nhiều người, cái chết của Osama Bin Laden có thể được xem như một đòn đánh nặng vào Al-Qaeda. Nhưng với các chiến binh Hồi giáo cực đoan “thấm nhuần” giáo lý Al-Qaeda, có thể họ sẽ coi đó là sự “tử vì đạo” của một anh hùng; từ nay Bin Laden là tử sĩ.
Chỉ một điều khiến Al-Qaeda có thể suy yếu là nguy cơ đánh mất sự ủng hộ của chính người Hồi giáo. Một báo cáo vào tháng 12-2009 của ba học giả ở Học viện Quân sự Mỹ cho rằng từ năm 2004 tới 2008, số nạn nhân không phải người phương Tây của Al-Qaeda chiếm 85% trong số hơn 3.000 người, trong khi nạn nhân là người phương Tây chỉ có 15%. Nhưng Al-Qaeda còn được ủng hộ tới mức nào, điều ấy phụ thuộc cả vào phương Tây, nhất là Mỹ và cách ứng xử của Mỹ sau cái chết của Bin Laden.
| Những mốc chính trong đời Osama Bin Laden: Sinh năm 1957 tại thủ đô Riyadh của Ả-rập Xê-út, là con trai thứ bảy trong một gia đình triệu phú. Năm 1970, bố chết. Năm 1974, cưới vợ là một cô gái họ hàng xa. Năm 1976, học kinh tế và quản lý tại Đại học King Abdul-Aziz ở Jeddah (Ả-rập Xê-út). Năm 1984, Bin Laden tham gia cùng các chiến binh Hồi giáo tình nguyện chống quân đội Xô Viết, đi đi về về giữa ba nước Ả-rập Xê-út, Afghanistan và Sudan. Năm 1988, thành lập Tổ chức Al-Qaeda tại Afghanistan, làm đầu mối cho hoạt động của các chiến binh Hồi giáo cực đoan chống Mỹ, Israel và đồng minh. Năm 1993, bị gia đình tước quyền cổ đông trong công ty. Năm 1994, bị Ả-rập Xê-út tước quốc tịch. Năm 1995, Ả-rập Xê-út tuyên bố Bin Laden có liên quan đến những vụ đánh bom xe hơi ở Riyadh, làm chết sáu người, trong đó có năm người Mỹ và làm bị thương 60 người. Năm 1996, Bin Laden rời Sudan sang Afghanistan. Ban án lệnh (fatwa) chống lại “tất cả các viên chức quân đội Mỹ” trên toàn thế giới. Năm 1998, nổ bom xe hơi ở sứ quán Mỹ tại Kenya và Tanzania: 224 người chết, trong đó có 12 người Mỹ. Bin Laden bị đưa vào danh sách “10 đối tượng cần truy nã nhất” của FBI. Năm 2000, Al-Qaeda nhận trách nhiệm tấn công hàng không mẫu hạm Cole của Mỹ ở cảng Aden (Yemen), làm chết 17 lính Mỹ. Ngày 11-9-2001, những chiếc máy bay bị cướp đã phá tan tành tòa tháp đôi ở Trung tâm Thương mại Thế giới (New York) và nhằm hướng Lầu Năm Góc mà tấn công, làm chết gần 3.000 người. Tổng thống Bush tuyên bố phải bắt được Bin Laden “dù còn sống hay đã chết”. Tháng 9-2002: Đài Al Jazeera phát đi một cuốn băng ghi âm, nói là giọng của Bin Laden, trong đó Bin Laden cầu nguyện cho những kẻ không tặc trong vụ 11-9 vì “đã làm thay đổi tiến trình lịch sử”. Tháng 11-2002: Al-Qaeda nhận trách nhiệm đánh bom tự sát vào khu nghỉ mát Mombasa Paradise, giết chết 15 người, làm bị thương 80 người. Tháng 1-2010: Băng ghi âm mới từ Bin Laden, nhận trách nhiệm đánh bom bất thành vào máy bay Mỹ nhân dịp Giáng sinh 2009. Tháng 3-2010: Bin Laden tuyên bố trong một băng ghi âm rằng Al-Qaeda sẽ giết tất cả tù binh Mỹ nếu Mỹ tử hình Khalid Sheikh Mohammed, kẻ lập kế hoạch tấn công khủng bố 11-9. Tháng 1-2011: Bin Laden nói rằng các con tin người Pháp bị cầm giữ ở Niger sẽ không được trả tự do trừ phi Pháp rút toàn bộ quân đội khỏi các lãnh thổ của người Hồi giáo. Ngày 1-5-2011: Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố Bin Laden đã bị giết ở Pakistan. (The Guardian) |
ĐOAN TRANG
Kỳ sau: Nước Mỹ sau cái chết của Bin Laden