Đề án phát triển mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo (ĐMST) tầm cỡ quốc tế tại TP.HCM đang được định hình vững chắc bởi bốn trụ cột trọng yếu. Trong đó, sự ra đời của Trung tâm ĐMST Đại học Quốc gia TP.HCM (VIH) vào cuối năm 2025 được kỳ vọng là “cú hích” mang tính lịch sử.
Ths Trần Vũ, Phó Giám đốc VIH, Giám đốc vận hành Hội đồng Cố vấn Chiến lược ĐMST (SACSTI), nhìn nhận VIH không chỉ khơi thông nguồn lực chất xám khổng lồ từ khối viện trường mà còn đóng vai trò hạt nhân kết nối, đưa tri thức từ phòng thí nghiệm ra thị trường, tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Hạt nhân chuyển giao các công nghệ chiến lược
. Phóng viên: Thưa ông, trong mạng lưới bốn trụ cột ĐMST của TP.HCM, Trung tâm ĐMST Đại học Quốc gia TP.HCM được định vị vai trò cốt lõi như thế nào trong chuỗi giá trị này?
+ Ths Trần Vũ: Trong mạng lưới bốn trụ cột ĐMST tầm cỡ quốc tế của TP.HCM, VIH có vai trò đặc thù là hạt nhân điều phối tri thức, nghiên cứu và chuyển giao các công nghệ chiến lược và thúc đẩy ĐMST thông qua kết nối ba nhà.
Vai trò này không chỉ dừng lại ở phạm vi TP.HCM mà còn lan tỏa ra các địa phương, đặc biệt là khu vực Đông Nam bộ và ĐBSCL. VIH là một mắt xích đi cùng hệ thống ĐHQG TP.HCM, được bổ sung nguồn lực bởi chính hệ sinh thái bên trong của ĐHQG TP.HCM. Cơ quan này đóng vai trò đưa nguồn lực khoa học công nghệ (KHCN), chuyên gia, phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu mạnh và sinh viên tài năng của ĐHQG TP.HCM vào chuỗi giá trị ĐMST của TP.
ĐHQG TP.HCM hiện là hệ thống lớn với hơn 100.000 sinh viên đại học, hơn 10.000 học viên sau đại học, hơn 6.500 viên chức, người lao động và hơn 1.600 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ. Đây là nguồn lực chất xám quan trọng để TP.HCM chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động, đất đai sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và ĐMST.
Về bản chất, VIH hoạt động như một nền tảng điều phối và bổ trợ. Trung tâm kết nối bài toán của nhà nước, doanh nghiệp, địa phương với năng lực nghiên cứu của các trường, viện, nhóm chuyên gia trong và ngoài nước. Khi đó, các trụ cột không vận hành rời rạc, mà tạo thành một chuỗi: Phát hiện bài toán - nghiên cứu giải pháp - thử nghiệm - ươm tạo - thương mại hóa - mở rộng thị trường.
Thử nghiệm điều phối nguồn lực chuyên gia theo từng lĩnh vực
. Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đã tạo ra những bước chuyển nền tảng và kết quả nổi bật nào, thưa ông?
+ Sau thời gian đi vào hoạt động, Trung tâm là đã hình thành được nền tảng vận hành ban đầu cho một mô hình ĐMST mới trong đại học. Trong đó đã tham gia thành lập và vận hành Hội đồng Cố vấn Chiến lược ĐMST ĐHQG TP.HCM (SACSTI). Đây là nguồn lực rất đặc biệt, quy tụ các chuyên gia, doanh nhân, nhà đầu tư, nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín để tư vấn cho Giám đốc ĐHQG TP.HCM và lãnh đạo TP trong các vấn đề lớn.
Có thể kể đến như tăng trưởng hai con số, liên kết vùng, đô thị thông minh, Luật Đô thị đặc biệt, công nghệ chiến lược, diễn đàn quốc tế thường niên về KHCN và ĐMST cùng rất nhiều các tham vấn khác cho TP, các bộ ngành Trung ương.
Trung tâm cũng vận hành mô hình hợp tác “3 nhà” bằng các hoạt động rất cụ thể như tổ chức các đoàn công tác cùng nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp để khảo sát các bài toán thực tiễn Cà Mau, Tây Ninh, Cần Thơ, Quảng Ngãi… Đồng thời, thúc đẩy hợp tác với các doanh nghiệp như VNG Group trong phát triển hệ sinh thái công nghiệp game, VNFood trong công nghiệp phụ phẩm nông nghiệp, Real-Time Robotics trong nghiên cứu ứng dụng bán dẫn và AI cho UAV, Becamex trong xây dựng khu công nghiệp sinh thái...
Bước đầu chúng tôi đã hình thành các nhóm nghiên cứu liên trường, liên ngành và hợp tác xuyên biên giới để giải quyết các bài toán thực tế của địa phương/doanh nghiệp. Một số hướng đang được thúc đẩy như đề án phát triển Cà Mau thành trung tâm công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi và thủy sản của vùng ĐBSCL, dự án hệ thống quản lý nước đô thị tích hợp với các chuyên gia Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Ngoài ra, Trung tâm đang thử nghiệm mô hình các viện, trung tâm xuất sắc theo mô hình “Virtual Institute” để điều phối nguồn lực chuyên gia trong và ngoài nước ở các lĩnh vực như công nghệ carbon, kiểm kê khí nhà kính, công nghệ bán dẫn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng sạch... Đây là cách làm linh hoạt, phù hợp với bối cảnh nguồn lực phân tán nhưng nhu cầu liên ngành rất cao.
Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của TP.HCM hiện có bốn trụ cột trọng tâm. Gồm Trung tâm ĐMST Đại học Quốc gia TP.HCM, Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP.HCM, Vườn ươm Doanh nghiệp Công nghệ cao tại Khu Công nghệ cao và các trung tâm ĐMST theo mô hình hợp tác công – tư (PPP), Quỹ đầu tư mạo hiểm.
Thông qua những kết nối bài toán của địa phương, doanh nghiệp, Trung tâm đã bắt đầu tham gia chủ trì các dự án, đề tài nghiên cứu ứng dụng, giải pháp ĐMST kết nối từ đội ngũ nhà khoa học liên trường, có nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để bổ trợ tài chính cần thiết. Lý tưởng hơn, sau này các sản phẩm chuyển giao có thể trở thành những tài sản trí tuệ, có thể góp vốn, hình thành doanh nghiệp spin-off hoặc doanh nghiệp startup từ chính ĐHQG TP.HCM.
Tuy vậy, khó khăn lớn nhất hiện nay là chúng ta đang vừa xây dựng mô hình, vừa vận hành, vừa phải tạo kết quả thực tiễn, hay nói xa hơn là quá trình chứng minh được kết quả hoạt động KHCN, ĐMST đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Những nền tảng tạo cú hích lớn cho tăng trưởng kinh tế
. Hệ sinh thái ĐMST của chúng ta hiện còn thiếu những mảnh ghép nào để phát huy tối đa công năng của bốn trụ cột nói chung và VIH nói riêng?
+ Hiện nay, hệ sinh thái ĐMST TP.HCM đã có những nền tảng rất quan trọng nhờ thị trường lớn và doanh nghiệp năng động. TP cũng sở hữu hệ thống đại học - viện nghiên cứu mạnh, các khu công nghệ cao, cộng đồng startup và các bên liên quan hỗ trợ, có các chính sách mới và nguồn lực tài chính lớn mạnh. Tuy nhiên, để bốn trụ cột phát huy tối đa công năng, tôi cho rằng vẫn cần hoàn thiện thêm một số mảnh ghép cốt lõi.
Thứ nhất là cơ chế điều phối chung. Một hệ sinh thái mạnh không chỉ là có nhiều trung tâm, mà các trung tâm phải biết rõ vai trò của nhau, chia sẻ dữ liệu, bài toán, cùng thiết kế chương trình và đo lường kết quả nhằm tránh nguồn lực bị phân tán.
Thứ hai là nguồn vốn cho giai đoạn rất sớm. Hệ sinh thái cần bổ sung vốn mồi, vốn thử nghiệm, vốn cho proof-of-concept (POC), vốn cho thương mại hóa công nghệ. Những vấn đề rất mới như định giá tiền thương mại, tín dụng xanh, ưu đãi đấu thầu sản phẩm ĐMST, mua sắm công cho sản phẩm công nghệ, ưu đãi thuế... cũng cần được hoàn thiện.
Thứ ba là đội ngũ chuyên gia trung gian về ĐMST. Chúng ta cần nhiều hơn các chuyên gia về sở hữu trí tuệ, định giá công nghệ, phát triển sản phẩm, quản trị spin-off, gọi vốn, pháp lý công nghệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, phát triển thị trường. Nhà khoa học rất giỏi nghiên cứu, doanh nghiệp rất hiểu thị trường nhưng giữa hai bên cần một đội ngũ “phiên dịch công nghệ” chuyên nghiệp. Bởi quá trình thương thảo, xác định phạm vi quyền sở hữu, quyền tác giả, tỉ lệ phân bổ nguồn vốn, lợi nhuận… đều rất mới mẻ trong khu vực công.
Thứ tư là hạ tầng dùng chung như phòng thí nghiệm, xưởng tạo mẫu, hệ thống tính toán, dữ liệu, không gian làm việc chung... Trong kế hoạch của VIH, việc xây dựng nền tảng chuyển giao/thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ tư vấn pháp lý, hạ tầng số quản lý và hỗ trợ thành lập doanh nghiệp là một nhiệm vụ rất quan trọng.
Thứ năm là năng lực hấp thụ ĐMST của doanh nghiệp và thị trường. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp chưa xem ĐMST là một cấu phần cốt lõi trong chiến lược tăng trưởng, chưa chủ động đầu tư cho R&D hoặc thiếu nguồn lực hỗ trợ. Họ cũng thiếu kết nối với các phòng thí nghiệm, chưa sẵn sàng thử nghiệm công nghệ mới, thay đổi mô hình kinh doanh hay chủ động hợp tác với viện, trường.
Công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi doanh nghiệp sẵn sàng tiếp nhận, thử nghiệm và đầu tư để ứng dụng vào sản xuất kinh doanh, khi đó hệ sinh thái mới thực sự tạo ra tác động đột phá. Tôi tin rằng chỉ cần hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) cải tiến năng lực R&D thì sẽ tạo ra các cú hích lớn trong thị trường và tăng trưởng kinh tế.
Ba lực đẩy cho tăng trưởng TP
. Bài toán khó nhất hiện nay là đưa công nghệ sâu (Deep-tech) từ “phòng thí nghiệm” ra thị trường. Trung tâm có cơ chế đột phá nào để giải quyết thách thức này?
+ Chúng tôi xác định không thể thương mại hóa công nghệ bằng cách chờ đến khi đề tài kết thúc rồi mới đi tìm doanh nghiệp. Cách tiếp cận mới phải là bắt đầu từ bài toán thực tiễn ngay từ đầu.
Chiến lược đầu tiên của Trung tâm là đặt bài toán trước khi đặt đề tài. Trung tâm sẽ làm việc với doanh nghiệp, địa phương để xác định các vấn đề cụ thể. Sau đó mới kết nối với nhóm nghiên cứu phù hợp trong ĐHQG TP.HCM và tận dụng nguồn lực hợp tác quốc tế, các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, các nhóm nghiên cứu mạnh. Việc này được thực hiện theo hướng liên kết các vấn đề để tạo ra những sản phẩm giải quyết được bức tranh lớn hơn, có tác động lớn hơn.
Cạnh đó, Trung tâm đã xác định rõ vai trò cầu nối giữa các đơn vị đào tạo, nghiên cứu của ĐHQG TP.HCM với doanh nghiệp và xã hội. Qua đó, nhằm thúc đẩy chuyển giao tri thức, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, liên doanh, liên kết, thành lập hoặc góp vốn thành lập doanh nghiệp khởi nguồn sáng tạo (spin-off) và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (start-up).
Cuối cùng, phát triển không gian kết nối và hạ tầng chuyển giao công nghệ. Trong năm nay, tòa nhà Trung tâm Nghiên cứu tiên tiến (VIH) sẽ đi vào hoạt động, đó là một tổ hợp của các Phòng thí nghiệm trọng điểm, xưởng sản xuất quy mô nhỏ với các trang bị hiện đại, chia sẻ dùng chung để cùng nghiên cứu, sử dụng.
Tổ hợp nghiên cứu sẽ kết nối với Tổ hợp các không gian làm việc chung, các startup công nghệ, nhà đầu tư, tổ chức hỗ trợ theo các lĩnh vực ưu tiên trong hệ sinh thái để kết nối với nhau thành một thực sự gắn kết từ kết quả nghiên cứu đến thị trường.
. Khi các trụ cột ĐMST phát huy tối đa công năng, ông kỳ vọng hệ sinh thái này sẽ tạo ra những “lực đẩy” nào cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của TP.HCM?
+ Nếu mạng lưới Trung tâm ĐMST tầm cỡ quốc tế của TP.HCM và VIH được phát huy tối đa công năng, tôi kỳ vọng hệ sinh thái này sẽ tạo ra ít nhất ba lực đẩy cho tăng trưởng kinh tế TP.
Thứ nhất là về năng suất. ĐMST giúp doanh nghiệp cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ, tự động hóa, chuyển đổi số, tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Đây là con đường căn cơ để tăng trưởng hai con số nhưng vẫn bền vững. Khi các kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành spin-off, startup, doanh nghiệp KHCN, TP sẽ có thêm một lớp doanh nghiệp mới dựa trên tài sản trí tuệ, công nghệ lõi và năng lực ĐMST thay vì chỉ dựa vào mô hình kinh doanh truyền thống.
Thứ hai là về xuất khẩu công nghệ và liên kết vùng. TP.HCM phải từng bước tham gia tạo ra, làm chủ, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ trong các lĩnh vực như AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch, công nghệ giáo dục, tài chính, công nghệ xanh… Cũng từ những sự phát triển về KHCN của TP, các địa phương của Đông Nam Bộ và ĐBSCL cũng sẽ là mắt xích quan trọng để bổ sung, thúc đẩy chuỗi giá trị của TP.HCM cũng như chính địa phương mình.
Thứ ba là về thu hút đầu tư và nhân tài. Một hệ sinh thái ĐMST mạnh sẽ thu hút chuyên gia, nhà khoa học, quỹ đầu tư, tập đoàn công nghệ, doanh nghiệp R&D đến với TP.HCM. Khi nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao càng nhiều với một dư địa đủ rộng để nhân tài có thể phát huy thế mạnh, họ sẽ tự tìm đến.
. Xin cảm ơn ông.
Hệ sinh thái ĐMST TP.HCM chuyển sang thiết kế hệ thống
Hệ sinh thái ĐMST TP.HCM đang bước vào một giai đoạn phát triển mới: Từ giai đoạn “khởi động theo làn sóng” sang giai đoạn “thiết kế hệ thống và tạo kết quả đo lường được”.
Hiện nay, TP.HCM đang đặt ĐMST vào trung tâm của chiến lược tăng trưởng kinh tế, gắn với công nghệ chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đô thị thông minh, công nghiệp công nghệ cao và năng lực cạnh tranh vùng. Đây là sự thay đổi rất quan trọng.
Tuy nhiên, nếu so với kỳ vọng của một mạng lưới trung tâm ĐMST tầm cỡ quốc tế, tôi nghĩ chúng ta mới đang ở giai đoạn thiết lập nền móng. Nhịp độ là tích cực nhưng để đạt chuẩn quốc tế thì cần nhanh hơn ở ba điểm, gồm hoàn thiện thể chế thực thi, tạo các dự án mẫu có tác động thật và huy động mạnh hơn nguồn lực doanh nghiệp.
Những chiến lược phát triển mới về các sản phẩm KHCN chiến lược cũng cần nhìn nhận theo hướng ưu tiên phát triển theo cụm công nghệ, liên kết vùng để gia tăng chuỗi giá trị, có sự phân bổ hợp lý về đầu tư vốn khu vực công lẫn khu vực tư.
Điểm tích cực là các trụ cột chính đã hình thành. ĐHQG TP.HCM cũng đã xác định VIH là thành viên của mạng lưới Trung tâm ĐMST TP.HCM và quốc gia. Trung tâm này phát huy vai trò hạt nhân thúc đẩy hệ sinh thái ĐMST vùng Đông Nam Bộ, ĐBSCL, thúc đẩy hợp tác ba nhà, nghiên cứu, ứng dụng, phát triển doanh nghiệp KHCN, hỗ trợ khởi nghiệp và ĐMST.