Để dành hết tâm sức cho cuộc kháng chiến, mọi cán bộ, nhân viên của Văn phòng Trung ương Cục miền Nam (TWCMN) phải nghiêm túc thực hiện cuộc vận động ba khoan: “Khoan yêu, (đã yêu thì) khoan cưới, (đã cưới thì) khoan có con”. Nhưng cuộc kháng chiến thì kéo dài và những mái đầu xanh thì bắt đầu lấm tấm bạc khiến lãnh đạo ở đây không khỏi lo. Vậy là bên cạnh việc dồn sức vào công việc chuyên môn, họ còn để tâm làm ông tơ bà nguyệt. Căn cứ như một mái ấm gia đình kể từ khi có tiếng khóc trẻ thơ, ai cũng thấy như mình được trở về làng quê thân thuộc. Có những người giữ những kỷ vật mừng cưới cho đến ngày hòa bình, cho đến tận bây giờ.
Chuyện tình đôi dép lốp
Một trong những nhân viên Văn phòng TWCMN thành đôi và sống hạnh phúc cho đến ngày nay là ông Trần Quang Đức và bà Dương Ngọc Mỹ. Hai người cùng công tác ở bộ phận đánh máy. Ban ngày làm việc. Ban đêm muốn nói chuyện với nhau phải luôn có ngọn đèn để giữa, hai người ngồi đối diện. Khi máy bay địch đến thì tắt đèn, mỗi người phải tản đi mỗi hướng.
“Nữ ở trong rừng thì thiệt thòi hơn cánh nam. Mỗi lần hành quân tôi để ý thấy dép của Mỹ bị sứt quai hoài, trên vai thì cõng máy đánh chữ và các phụ kiện linh tinh nên rất khó đi. Thấy thương, tôi kiếm vỏ xe hơi, kiếm vỏ đạn mài dao làm dép cao su tặng Mỹ” - ông Đức kể. Đôi dép ấy như một món quà quý với bà Mỹ vì hành quân đường dài vẫn không bị phồng rộp chân, không bị tụt dép. Bà tặng lại ông cục xà bông thơm như một cách nhận lời tỏ tình. Cục xà bông thơm đó ông không dám xài mà chỉ ủ trong ba lô cho thơm quần áo.
Họ yêu nhau không chỉ bằng tình cảm lứa đôi mà còn có cả tình đồng chí, đồng đội, họ động viên nhau hoàn thành tốt công việc. Ông Đức được đồng đội xem là người đánh máy rất giỏi, đã từng được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (Bí thư Trung ương Cục thời kỳ 1964-1967) khen vui: “Cho cậu này ăn lương thứ trưởng vì đánh máy quá giỏi”. Vì được đánh giá cao trong công việc nên khi họ báo cáo xin được kết hôn thì tổ chức đồng ý ngay. Năm 1974, lễ cưới đơn sơ của cả hai được tổ chức tại căn cứ. Hạnh phúc ấy được gìn giữ bền chặt mãi đến ngày hôm nay.

Bà Nguyễn Thu Hồng và người con trai đầu của vợ chồng bà thời ở căn cứ. Ảnh: LÊ HỒNG QUANG
Lá thư tác hợp
Những năm tháng đất nước bị tàn phá dưới bom đạn Mỹ, nhiều người Việt yêu nước sinh sống tại Campuchia đã theo tiếng gọi của trái tim tìm mọi cách góp sức mình vào cuộc kháng chiến giải phóng nước nhà. Gia đình bà Nguyễn Thu Hồng ở Campuchia là cơ sở nuôi giấu những chiến sĩ cách mạng miền Nam như ông Nguyễn Văn Linh, Trần Nam Trung, Trần Văn Trà… Bà xin ông Trần Nam Trung (Ủy viên Thường vụ TWCMN) cho theo đến chiến khu nhưng ông khuyên: Không phải đi xa mới làm cách mạng, nuôi giấu chiến sĩ hằng ngày ngay tại gia đình cũng đã là làm cách mạng rồi!
Đến năm 1968, khi phong trào học sinh sinh viên yêu nước xuống đường dâng cao, bà quyết xin về căn cứ TWCMN. Ở đây, bà được cho đi học y tá rồi về phục vụ tại bệnh xá. Trong quá trình công tác, bà Hồng nhận được lòng cảm mến từ bác sĩ Lê Hồng Quang, người bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho Bí thư Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc). Ngặt nỗi, bác sĩ Quang phải thường xuyên đi Bắc về Nam cùng với những chuyến đi có khi kéo dài hơn năm trời của ông Nguyễn Văn Linh nên hai người hiếm khi có dịp gặp mặt. Thời đó cái gì cũng phải công khai, có ai tỏ lòng với mình là phải báo ngay cho tổ chức, tổ chức cho phép mới được cưới nhau.
Hiểu lòng của hai người, ông Mười Cúc đã viết thư gửi cho bà Hồng: “…Việc cháu và Quang bác đã biết và nếu cháu có thương Quang thì bác rất mừng. Ba và má cháu cũng có biết Quang vì có lúc lên ở với bác trên đó. Ba má cũng thương Quang, chắc là bằng lòng thôi. Tuy nhiên, cháu không nên cho nhiều người biết vội và nếu có ai biết mà có nói ra nói vào gì thì cháu cũng cứ vững vàng đừng nghĩ tới nghĩ lui gì cả. Vì bác còn bận chưa có dịp gặp sớm cháu để thu xếp việc cho cháu và Quang được nên viết thư này. Chúc cháu mạnh, chăm học và hết sức cố công tác. 24-7-1969”.
Mãi sau này, khi được cưới nhau vào năm 1970, ông Quang mới biết vợ mình được ông Mười Cúc viết thư tác hợp cho hai người với nhau. Hôm đám cưới, đồng đội thì gấp giấy làm bình hoa cưới. Ông Mười Cúc tặng mừng cho đôi vợ chồng 300 ria (tiền Campuchia). Họ giữ những kỷ vật ấy cho đến tận bây giờ.


Ông Quang và bà Hồng tại căn nhà riêng của mình cùng thủ bút của ông Nguyễn Văn Linh trong lá thư gửi bà Hồng. Ảnh: THANH MẬN
Trong căn nhà ở quận 9, vợ chồng ông đang chăm bón cho một cái cây cảnh mang tên Hạnh phúc, cái tên như chính bầu không khí trong gia đình ông bà.
Mối tình Việt Nam-Campuchia
Nói đến việc se duyên, những người từng công tác ở Văn phòng TWCMN hay nhắc đến ông Nguyễn Văn Sáu (Sáu Bằng - Phó Văn phòng TWCMN), một người đức độ, nặng nghĩa nặng tình. Ông tạo điều kiện, báo cáo với lãnh đạo TWC tác hợp cho rất nhiều đôi nam nữ đến với nhau.
Cặp vợ chồng “hôn nhân quốc tế” duy nhất ở Văn phòng TWC là ông Nguyễn Quốc Thành và bà Nà Ri. Lúc đó ông Thành làm ở bộ phận hậu cần, chuyên đi mua hàng hóa tại Campuchia. Những món hàng khó tìm, ông thường nhờ một người con gái Campuchia có tên là Nà Ri mua giúp. Khi tình cảm lứa đôi phát sinh, suốt nhiều năm liền cả hai sống trong lo lắng, sợ tổ chức không đồng ý vì trong văn phòng chưa có tiền lệ nào cho hai người khác quốc tịch cưới nhau.
Một lần làm liều, ông mạnh dạn trình bày với ông Sáu Bằng. Ông Sáu khuyên ông tập trung làm tốt công việc, còn chuyện duyên nợ thì… để ông lo. Kết quả của lời hứa đó là bà Nà Ri được khăn gói lên đường sang Việt Nam làm chị nuôi ở Văn phòng TWC. Năm 1974, khi cảm nhận ngày toàn thắng sắp đến gần, vợ chồng ông được tổ chức cho đám cưới ngay tại căn cứ. Quà cưới quý nhất của họ là những bó hoa mai rừng do đồng đội tặng.
Trong căn nhà tại quận 11, hai vợ chồng ông giờ đây tự nhận mình là một gia đình hạnh phúc viên mãn. Cứ vài tháng họ lại về Campuchia một lần để thăm quê. Trong câu chuyện họ luôn nhắc về ông Sáu Bằng như người cha, người thầy đức độ. Hôm ông Sáu Bằng mất, ông Thành cũng về Vũng Tàu (nơi ông Sáu Bằng sống cuối đời) để tang.
“Từ những cuộc se duyên như vậy, nhiều tiếng khóc, tiếng cười trẻ thơ ra đời tại căn cứ. Không khí sinh hoạt rộn ràng vui vẻ hẳn lên, ai cũng tưởng như mình trở về lại làng quê thân yêu, về lại mái ấm gia đình. Với những người đã bạc đầu mới được làm cha, làm mẹ thì niềm vui nói sao cho hết. Họ vui thì tất cả cùng vui” - ông Thành nói.
Không ai thống kê nhưng mọi người ước chừng có khoảng vài chục đôi thành vợ chồng trong căn cứ giữa rừng. Trong số này, có lẽ ông Huỳnh Thanh Xuân, Thường trực CLB Truyền thống kháng chiến khối văn phòng TWCMN, có một ngày cưới đặc biệt nhất: Đám cưới được tổ chức tại hội trường TWCMN trước ngày 30-4 lịch sử bốn ngày. “Đó là ngày kỷ niệm đặc biệt sâu sắc, vinh dự và hạnh phúc nhất trong đời tôi. Gia đình chúng tôi giữ mãi hạnh phúc cho đến hôm nay” - ông Xuân nói bằng giọng tự hào.
| Mối duyên từ chuyện... khám răng Sau khi cơ sở Xứ ủy Nam Bộ (tiền thân của TWCMN) ở Sài Gòn bị lộ, nhiều đồng chí phải sang Campuchia để tiếp tục hoạt động. Tại cơ sở của ta ở Campuchia, bà con trong Hội Việt kiều yêu nước thường lui tới giúp đỡ, mua hàng hóa. Thấy ông Phan Phát Phước (người nổi tiếng viết bạch chỉ mà chúng tôi đã kể trong bài 1) đã gần 30 mà chưa có ai, ông Mai Chí Thọ khuyên ông nên lấy một trong số những người trong Hội Việt kiều yêu nước làm vợ. Từ đó, ông Phước “nhắm” một người tên là Đặng Thể Yến nhưng ông không biết phải mở lời làm sao cho bà hiểu. Một hôm, biết bà bị đau răng, những người ở Xứ ủy góp tiền lại cho ông Phước đưa bà đi khám răng. Sau vụ khám răng bà mới cảm được tấm chân tình của ông. Kết quả sau đó Xứ ủy tổ chức một bữa cơm tuyên bố đám cưới của hai người. Đến nay, dù đã 83 tuổi nhưng ông Phước và bà Yến vẫn xưng hô với nhau là anh em như thời son trẻ. |
THANH MẬN
(Còn tiếp)