Ngày tiễn ông Ba Quốc lên đường vào Nam hoạt động, bà Thanh, vợ đầu của ông, đang là công nhân tại Nhà máy in Tiến Bộ. Một ngày tháng 12-1954, người phụ nữ tên Tuyết Mai được Cục Tình báo cử đến gặp bà Thanh. Người này thông báo rằng để xóa mọi dấu vết và bảo vệ bí mật cùng sự an toàn cho chồng, bà và các con cần phải rời Hà Nội lên sinh sống tại Nông trường Vân Lĩnh - một vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh ở Phú Thọ.
Không một chút do dự, bà Thanh gật đầu ra đi, dù không biết tương lai sẽ như thế nào.
15 lần chuyển nhà để né sự miệt thị
Một nách hai con, cùng với người mẹ già yếu đuối, bà Thanh lên Nông trường Vân Lĩnh, bắt đầu một cuộc sống mới ở vùng đất khó khăn và xa lạ, chỉ với duy nhất số điện thoại tối mật của Cục Tình báo để liên hệ đơn tuyến khi cần thiết với một phụ nữ mà bà chỉ biết mỗi cái tên là Tuyết Mai.
Với đôi bàn tay mảnh mai chưa quen việc nặng, bà Thanh tự mình chặt cây làm nhà. Khởi đầu, mọi chuyện tuy có vất vả nhưng cũng khá suôn sẻ, thậm chí bà còn được đề nghị kết nạp Đảng ở nông trường. Thế nhưng khi bản lý lịch của bà được lật đi lật lại thì tai họa ập đến. Mọi người xa lánh, công việc bị mất, trợ cấp bị cắt.
Để sinh sống, chăm sóc các con và mẹ già, bà không từ chối bất kỳ công việc nặng nhọc nào. Đã bao lần, khi bà gầy dựng xong một công việc tốt đẹp thì lại bị điều đi làm việc khác, chỉ với lý do duy nhất được nhắc đi nhắc lại là bà có chồng theo giặc vào Nam. Từ năm 1959 đến năm 1973, mẹ con bà Thanh đã có đến 15 lần chuyển nhà theo sự thay đổi công việc và sự miệt thị của người đời. Lần cuối cùng là một căn nhà vách lá trống trước hở sau nằm trơ trọi giữa khu đồi rộng lớn.
Vợ chồng ông Ba Quốc-bà Thanh. Ảnh: PHONG LAN
Người ta những tưởng sự chịu đựng của một người đàn bà yếu đuối như thế đã là khủng khiếp. Nhưng nỗi đau của bà Thanh lại bị đẩy lên đến cao trào, day dứt hết lần này đến lần khác. Khi mẹ qua đời, bà tha thiết mong nông trường giúp lo tang lễ chu đáo, có nghi thức đọc điếu văn để tạ ơn đấng sinh thành. Người ta bảo sẽ làm với điều kiện là bà không được để khăn tang của chồng sau linh cữu mẹ vì chồng bà theo giặc. Bà nuốt lệ, tự an táng mẹ mình ngay trên khu đồi cạnh nhà.
Không được biệt đãi vì sợ lộ
Khi các con bà không được học hành tử tế như bao đứa trẻ bình thường khác vì có cha theo địch, bà âm thầm gõ cửa từng nơi để xin cho con nhưng không được giải quyết. Lời giải thích từ cấp trên rằng nếu con bà được biệt đãi thì thân phận của chồng bà sẽ gặp hiểm nguy, bởi kẻ thù rất nham hiểm! Nỗi đau ấy, bà đành nuốt lệ vào lòng và càng lặng lẽ hơn...
Chúng tôi đã có dịp cùng chị Đặng Thị Chính Giang, con gái lớn của bà Thanh và ông Ba Quốc, trở lại thăm Nông trường Vân Lĩnh, Phú Thọ, nơi gắn liền với những ký ức đau thương một thời của mẹ con chị. Khi nhắc lại tuổi thơ đầy giông bão của mình, chị Giang nức nở, nghẹn ngào: “Cho đến năm tôi học lớp 6, thấy mẹ tôi phải đi vay mượn nhiều. Có lúc người ta đưa mẹ tôi ra họp phụ nữ, người ta phê bình là tại sao hai mẹ con lại mặc chung một cái quần. Mẹ tôi nói bởi vì quá nghèo nên hai mẹ con chỉ mua chung được một cái quần. Khi khai giảng thì con tôi mặc, khi đi họp thì tôi mặc. Về nhà, mẹ tôi khóc. Đến lúc đó tôi mới biết nhà tôi rất nghèo…”.
Còn anh Trần Sơn - chồng chị Giang, vốn là người lính từng đóng quân cách nơi ở của mấy mẹ con bà Thanh không xa - hồi tưởng lại: “Nhà mẹ tôi cách nhà dân khác đến bốn, năm trăm mét. Ở giữa khu đồi đó có một cây đa, mẹ làm một cái túp lều bằng phên tranh. Muốn vào lối nào thì nhấc cái phên tranh ấy lên là vào được. Trong nhà, ngoài vài cái bát đĩa ra không có một cái gì cả. Ở thì chỉ kê được một cái giường và đi đi lại lại một tí thôi chứ không kê nổi bàn ghế gì cả. Không có gì cả”.
Ông Huỳnh Gì, một người hàng xóm năm xưa của bà Thanh, ngậm ngùi nói: “Tôi nhớ mãi hình ảnh một người đàn bà yếu đuối cùng bà mẹ già và hai đứa con ở cái nhà nhỏ ngoài kia. Cứ nhìn bà mẹ già đó thấy què quặt, khổ sở lắm… Tôi chưa thấy hình ảnh nào như thế, người đàn bà lúc nào cũng công việc, lúc nào cũng lo cho mẹ và cho con...”.
Chị Đặng Thị Chính Giang, con gái ông Ba Quốc và bà Thanh, bên ngôi nhà xưa ở Nông trường Vân Lĩnh, Phú Thọ. Ảnh: PHONG LAN
“Mẹ ngồi như hóa đá”
Không biết bằng sức lực nào mà bà Thanh có thể chịu đựng sự giày vò, cơ cực như thế trong ngần ấy năm trời mà không một lời san sẻ hay tiết lộ bất cứ một thông tin nào về người chồng với bất kỳ ai, cho dù là với chính những người con ruột thịt của mình! Tất cả người thân và quen biết cũ đều chỉ nhận thấy ở người đàn bà này một sự im lặng, chịu đựng đến tái tê lòng.
Nỗi cơ cực và buồn tủi của mẹ con bà Thanh ở Nông trường Vân Lĩnh được con gái nuôi của bà là chị Nguyễn Thị Hiên luôn mang theo những ấn tượng day dứt, bí ẩn không thể quên. Suốt những năm tháng ấu thơ, chị là bạn học của chị Giang, con gái bà Thanh. Cả hai cùng vượt qua quãng đường dài 10 cây số, trong trời rét căm căm của mùa đông miền Bắc để đến trường lúc 4 giờ sáng, cùng chia sẻ bữa đói bữa no và những câu chuyện ở Nông trường Vân Lĩnh.
“Tôi cứ nhớ một hình ảnh không bao giờ quên được. Mẹ mặc chiếc áo bà ba trắng với cái quần đen, xách cái túi, mang đôi dép mòn cũ đã đứt quai, lưng thì gù gù, đi một mình trên những con đường xa lắm. Cứ lặng lẽ, lặng lẽ như thế, lặng lẽ với con, lặng lẽ với gia đình rồi lặng lẽ với xã hội. Không bao giờ mẹ kêu khổ, không bao giờ mẹ nói vất vả, không bao giờ mẹ kêu ca…” - chị Hiên kể về người mẹ nuôi đặc biệt của mình.
Khi các con bà Thanh, vì điều kiện không được đi học tiếp, phải lựa chọn đi học nghề ở xa để sớm phụ giúp mẹ, chỉ còn duy nhất người con gái nuôi là chị Hiên ở lại nông trường, thỉnh thoảng ghé lại thăm bà. “Đến khi Giang học hết cấp 2 thì Giang đi trung cấp. Thành cũng đi nốt, chỉ còn tôi ở lại với mẹ. Thỉnh thoảng buổi tối tôi lên với mẹ. Hồi đó tôi viết thư cho Giang rằng mẹ ngồi như hóa đá chị à, mẹ ngồi lặng lẽ như hóa đá. Em đến tận nơi em nhìn thấy mẹ. Mẹ vẫn ngồi lặng lẽ, không nói, không gì cả. Em mới chạy tới ôm lấy mẹ, mẹ ngồi như hóa đá chị ơi. Khi nào em lên thì mẹ cười, mẹ nói, còn không thì mẹ ngồi một mình. Đó là những năm tháng Giang và Thành đều đi hết” - chị Hiên kể.
| Tướng tình báo “3 trong 1” Với tên gọi là Nguyễn Văn Tá, dưới vỏ bọc nhân viên của Sở Nghiên cứu chính trị và Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng hòa, Thiếu tướng Đặng Trần Đức (Ba Quốc) đã tung hoành ngang dọc trong hàng ngũ kẻ thù, cung cấp nhiều nguồn tin quan trọng, tối mật, giúp cho Bộ Chính trị và Trung ương Đảng xử lý kịp thời, góp phần vào thắng lợi chung. Ông còn trở thành “người tin cẩn” của các ông trùm tình báo phía đối phương, từng vượt qua cuộc kiểm tra “lòng trung thành với chế độ” bằng máy phát hiện nói dối để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một điệp viên chiến lược. Khi chiến tranh kết thúc, ông là điệp viên duy nhất tiếp tục tham gia hoạt động trong ngành tình báo với nhiệm vụ là cán bộ tình báo và sau này là chỉ huy tình báo. Ở vị trí nào ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, lập được nhiều chiến công to lớn mà đến tận bây giờ người ta vẫn chưa thể công bố vì chính tầm quan trọng của nó. Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, từng phát biểu rằng: “Ngành tình báo thường có ba loại nghề. Loại nghề thứ nhất là điệp viên, loại nghề thứ hai là cán bộ tình báo và loại nghề thứ ba là chỉ huy tình báo. Rất ít trường hợp, dù là những cây đại thụ trong ngành tình báo quốc phòng, cùng lúc làm được cả ba nghề này. Ông Ba Quốc là một trường hợp đặc biệt. Ông là một điệp viên giỏi. Sau giải phóng, ông trở thành một cán bộ tình báo và sau này là người lãnh đạo, chỉ huy tình báo giỏi. Trong cả ba vai trò ông ấy đều làm tốt”. |
Đạo diễn LÊ PHONG LAN
Kỳ tới: Người ra đi và những chiến công