Theo các tài liệu cổ, làng đồng Thông Tây Hội xuất hiện từ thế kỷ 19. Một nghệ nhân cao tuổi kể lại người có công đi học nghề đúc lư đồng để về truyền lại cho con cháu là ông Trần Văn Kỉnh.
Thăng trầm với thời gian
Ông Kỉnh học nghề ở lò đúc đồng Chợ Quán và chỉ truyền nghề cho con cháu trong dòng họ. Sau đó, một trong những học trò xuất sắc của ông là ông Trần Văn Thắng (Hai Thắng) muốn phát triển nghề này nên đã truyền dạy cho con em trong vùng.
Công đoạn hàn lư đồng
Thông Tây Hội ngày nay hiện còn khoảng 10 lò đúc, tồn tại dưới dạng quy mô các hộ gia đình có truyền thống làm nghề từ xưa. Đã có một thời nhiều nghệ nhân hàng đầu trong xóm phải bán những món đồ nghề để lấy tiền đong gạo nuôi gia đình vì không đủ chi phí để sản xuất.
Nghệ nhân thâm niên 40 năm nghề Trần Hải kể: “Đó là những năm sau giải phóng, nồi cơm gia đình còn không bén lửa thì nói gì đến chuyện họ mua lư trang trí bàn thờ. Lúc ấy chúng tôi đều phải đồng loạt đóng cửa lò vì không ai mua cả”.
Nhưng may mắn vì thời gian ấy rất ngắn. Những cửa lò lại sáng lửa lên. Người ta đã nghĩ đến việc sắm sửa bàn thờ tổ tiên đẹp và sang trọng. “Thế mới biết phú quý sinh lễ nghĩa, đời sống vật chất được nâng cao thì người ta quan tâm đến tâm linh nhiều hơn. Âu cũng là quy luật sống” - nghệ nhân Hải nói.
Cái hay của nghề đúc lư đồng là tất cả các công đoạn đều được làm thủ công. Từ làm khuôn, bịt sáp, làm khuôn nguội cho đến việc nấu chảy đồng, đổ khuôn, giũa, hàn, đánh bóng và chạm khắc đều qua bàn tay người thợ. Người thợ không cần sự hỗ trợ của máy móc mà sản phẩm làm ra vẫn tinh xảo và chất lượng. Nghề ở đây sản xuất theo gia đình. Cha hay ông nội thường đóng vai thợ cả. Các con, cháu là những thợ bạn. Quan trọng nhất của nghề là giữ bí mật nghề nghiệp.
Giá trị truyền thống và kinh tế
Theo các nghệ nhân trong làng, nghề đúc đồng thủ công là nghề có kỹ thuật khá cao. Người thợ cả phải biết nhiều kiến thức và nắm được toàn bộ cách gia công trên đồ đồng, từ việc pha chế nguyên liệu đến việc làm khuôn, đúc, chạm. Thợ cả còn phải biết thêm các món nghề phụ như hội họa, điêu khắc, nặn tượng...
Một nghệ nhân trẻ của làng đồng tác nghiệp
Về kỹ thuật, nghề làm lư đồng khá vất vả vì phải trải qua nhiều công đoạn. Bắt đầu là làm khuôn ruột bằng đất sét và tro trấu giã nhuyễn. Tiếp đó là đúc khuôn sáp (bằng vật liệu sáp ong trộn với sáp đèn cầy) để mỗi bộ lư đồng sau khi nung sẽ có hình dạng đúng y như khuôn đã được tạo dáng. Công đoạn thứ ba là phải bao bọc hai lớp đất sét giã nhuyễn bên ngoài, để lư không bị rỗ mặt.
Tiếp theo là đổ đồng đã nóng chảy vào khuôn. Công đoạn này đòi hỏi người thợ canh chừng rất kỹ và phối hợp nhịp nhàng giữa người móc khuôn từ hầm nung và người múc đồng đổ vào khuôn. Cuối cùng là đập bỏ khuôn đất để chuyển sang khâu làm nguội (mài giũa, chạm trổ hoa văn, đánh bóng). Từ khi đúc khuôn đất đến lúc có thể làm nguội phải mất ít nhất hai ngày cho một sản phẩm.
Nghệ nhân Trần Văn Thắng (Hai Thắng), chủ lò đúc khu phố 7 - đường Phan Huy Ích, cho biết mỗi tháng ông cho ra lò khoảng 300 sản phẩm lớn nhỏ và tiêu thụ khá nhanh. Theo ông, lò có thể nuôi sống hơn chục công nhân với mức thu nhập khá, chứng tỏ nghệ nhân vẫn sống được bằng nghề truyền thống này.
Tùy kích cỡ mà mỗi bộ lư đồng có giá bán từ 500.000 đồng đến 2 triệu đồng. Với nghề làm đồng này, ông Thắng đã xây được nhà lầu tiện nghi đầy đủ. Ông còn bỏ ra hơn 40 triệu đồng để xây dựng hệ thống xử lý nước thải hiện đại để đảm bảo môi trường.
Lư đồng để thờ cúng
Ông cho biết ông là đời thứ ba trong dòng họ theo nghề này và sẽ tiếp tục truyền nghề cho các con. Lư đồng là đồ thờ cúng nên người làm ra chúng phải có cái tâm trong sáng và sự tỉ mỉ cần thiết. Hiện có hai người con trai của ông đã thạo nghề và trở thành nghệ nhân có tiếng nối nghiệp cha. Ông Hai Thắng tâm sự: “Tui biết có nhiều người làm nghề chỉ vì nó nuôi sống được họ, còn tui có cả sự đam mê với nghề”.
Chính vì có những người giữ hồn truyền thống như ông nên dù quy mô nhỏ lẻ nhưng lư đồng trong xóm luôn có thương hiệu và được nhiều người mua. Sản phẩm lư đồng tuy không phổ biến nhưng nó như một thứ đặc sản tinh thần của người dân thành phố.
Ông Hai Thắng giảng giải tập tục thờ phụng tổ tiên ông bà cha mẹ là một nhu cầu tâm linh không thể thiếu của một gia đình Việt. Theo truyền thống từ xưa, một bộ lư hoàn chỉnh gồm một lư chính to ở giữa và hai chân đèn hai bên. Người xưa quan niệm bộ lư vuông sẽ mang lại may mắn hơn bộ lư tròn.
Khả năng chạm khắc hoa văn của người thợ được thể hiện qua những đường nét trên chiếc lư chính. Các chủ đề người thợ hay dùng để trang trí hoa văn là rồng-phụng, song long triều nguyệt hay phúc lộc thọ.
| Lịch sử nghề đúc đồng Sài Gòn Khoảng thế kỷ 18, khu vực Chợ Quán (quận 5) xuất hiện ba làng đúc lư đồng là Tân Kiểng, Nhân Giang và Bình Yên. Các nghệ nhân di dân từ các phường thợ ở Quy Nhơn vào. Họ tập trung lại thành những làng thợ đúc, sản xuất ra những mặt hàng như nồi đồng, chảo đồng, ô đồng, lư hương, chân đèn... Khu vực Tân Hòa Đông (quận 6) chế tạo lư đồng, chân đèn và nấu đồng thành thỏi, nhưng không rõ tổ phụ từ đâu đến. Thế kỷ 19, khu vực Thuận Kiều (Hóc Môn) nổi lên nghề đúc lư hương. Họ là con cháu của các thợ đúc miền Trung vào đây lập nghiệp từ nhiều đời. Khu này xuất hiện đồng thời với khu vực Thông Tây Hội (Gò Vấp). Vào giữa thế kỷ 20, một số gia đình ở làng Ngũ Xá (Hà Nội) vào vùng Hòa Hưng (Sài Gòn) mang theo nghề đúc hình thành một xóm nhỏ chuyên đúc đồng tam khí ở đây. Họ đúc ra đồ đồng rồi cẩn tam khí (vàng, bạc, đồng) lên. Sản phẩm của họ là các tượng thần thánh tiên Phật và các đồ gia dụng khác. Đồ đồng tam khí Hòa Hưng được nhiều người biết tiếng đặt hàng. |
SONG NGUYỄN
(Nguyệt san Pháp Luật TP.HCM tháng 7-2009)