Bảo đảm quyền bào chữa - Bài 2: LS chỉ có mặt “cho đủ tụ”?

Có trường hợp quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của tòa còn đóng dấu “Mật”, ảnh hưởng đến việc tìm hiểu vụ án của luật sư.

Theo đánh giá của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ngay cả ở giai đoạn truy tố, xét xử, quyền bào chữa cho bị can, bị cáo cũng chưa được đảm bảo. Vai trò của luật sư còn mờ nhạt cũng bởi một phần do quy định chưa rõ ràng…

Trong bản đánh giá thực trạng đảm bảo quyền bào chữa, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã chỉ ra rất nhiều quy định của pháp luật không đề cập đến vai trò luật sư. Luật sư tham gia vụ án hình sự trong tư thế bị động và chưa được pháp luật đảm bảo quyền làm sáng tỏ vụ án. Vai trò của luật sư từ giai đoạn điều tra, truy tố cho đến khi xét xử còn mờ nhạt, ngoài nguyên nhân do cán bộ, cơ quan tố tụng làm khó thì mô hình tố tụng và quy định pháp luật cũng chưa rõ ràng.

Thiếu sự hợp tác

Theo Liên đoàn Luật sư, trong giai đoạn truy tố hiện nay chưa có nhiều quy định cụ thể về sự tham gia của người bào chữa. Thực tiễn tố tụng cho thấy nhiều hoạt động của VKS như tiến hành phúc cung, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định tư pháp… không có sự tham gia của người bào chữa. Chẳng hạn, khoản 1 Điều 156 BLTTHS quy định điều tra viên, kiểm sát viên có quyền tham dự giám định nhưng phải thông báo cho người giám định biết trước, trong khi đó lại không đề cập đến luật sư...

Bên cạnh đó, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của VKS cũng không được thông báo cho người bào chữa. Phần lớn các khiếu nại, tố cáo của người bào chữa đều không được VKS trả lời hoặc giải quyết. Tương tự, trong giai đoạn xét xử, luật sư cũng không được tòa thông báo về quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Thậm chí có trường hợp quyết định trên còn đóng dấu “Mật”, ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, tìm hiểu vụ án của người bào chữa...

Bảo đảm quyền bào chữa - Bài 2: LS chỉ có mặt “cho đủ tụ”? ảnh 1

Luật sư đang tranh tụng tại một phiên tòa lưu động. Ảnh: HTD

Vai trò còn mờ nhạt

Một vướng mắc khác trong giai đoạn xét xử là BLTTHS không quy định các trường hợp người bào chữa được quyền chủ động đề xuất người làm chứng, chứng cứ cũng như triệu tập những người liên quan khác có mặt tại phiên tòa nếu không được sự chấp thuận của tòa. Luật cũng chưa thừa nhận chứng cứ do luật sư thu thập để làm căn cứ xác định có hay không hành vi phạm tội cũng như chưa quy định về quyền đánh giá chứng cứ của luật sư.

Song song đó, Điều 218 BLTTHS quy định chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án. Nội hàm của khái niệm “không liên quan đến vụ án” trên thực tế cũng được hiểu, diễn dịch khác nhau khi chủ tọa cắt ý kiến của người bào chữa. Chất lượng và kết quả tranh tụng vì vậy mà bị hạn chế… Về chuyện này, khoản 3 Điều 224 BLTTHS (quy định về nội dung bản án) cũng chưa cụ thể hóa được chủ trương nêu trong Nghị quyết 08 ngày 2-1-2002 của Bộ Chính trị, yêu cầu phán quyết của tòa phải xuất phát từ kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Mặt khác, Điều 58 BLTTHS quy định luật sư có quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Tuy nhiên, quy định lại chưa nói rõ quyền này của luật sư là độc lập hay phụ thuộc vào ý chí của bị cáo hay người đại diện hợp pháp của bị cáo.

Ngoài ra, ở phiên tòa phúc thẩm, Điều 264 BLTTHS đề cập tới quyền bổ sung chứng cứ mới hoặc bổ sung tài liệu, đồ vật của người bào chữa nhưng chưa quy định rõ về trình tự điều tra, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật. Ở phiên họp giám đốc thẩm, theo Điều 280 BLTTHS, khi xét thấy cần thiết, tòa triệu tập người bị kết án, người bào chữa... Điều 282 BLTTHS cũng quy định những người được triệu tập được trình bày ý kiến… Tuy nhiên, rất hiếm hoi có việc luật sư được tham gia và có cơ hội trình bày ý kiến bào chữa tại các phiên họp giám đốc thẩm.

(Lược trích báo cáo số 251 ngày 29-10-2012 của Liên đoàn Luật sư VN).

Mô hình tố tụng nặng về thẩm vấn

Theo Liên đoàn Luật sư, mô hình tố tụng Việt Nam về cơ bản vẫn là mô hình tố tụng thẩm vấn. Trên thực tế, việc khởi tố tiến hành điều tra và đề nghị truy tố vẫn thuộc phần chủ động của cơ quan điều tra. Vai trò của VKS có phần thụ động. Tòa thì thay vì giữ vai trò là trọng tài khách quan lại đang trở thành một chủ thể buộc tội. Về hình thức, tại phiên tòa có tăng thêm trình tự phát biểu tranh tụng và nhấn mạnh hơn đến vai trò của luật sư nhưng về bản chất, do nhiều cơ chế và áp lực khác nhau, tòa dường như vẫn định đoạt trước số phận pháp lý của bị cáo...

Điều đáng nói nữa là địa vị pháp lý của luật sư chỉ là người tham gia tố tụng, phạm vi hoạt động thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp nên thực chất chỉ là người trợ giúp pháp lý mang tính bị động, chưa có cơ sở cho việc hành nghề bình đẳng và độc lập. Pháp luật cũng đang thiếu cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo...

Điều tra viên “chơi chiêu”

Luật sư Đào Ngọc Lý (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) kể có lần đề nghị điều tra viên cho chứng kiến việc lấy lời khai của thân chủ. Nghĩ một hồi, điều tra viên hẹn luật sư 8 giờ sáng hôm sau có mặt tại phòng làm việc. Đúng 7 giờ 30 luật sư tới, loanh quanh tìm mãi không thấy điều tra viên đâu nên quyết định đi thẳng vào trại tạm giam. Đến nơi, luật sư ngẩn người vì điều tra viên đã… lấy lời khai từ trước đó rồi. Theo luật sư Lý, đây là một cách “vô hiệu hóa” luật sư của điều tra viên.

VKS thiếu hợp tác

Trong vụ tiêu cực phân bổ quota dệt may ở Bộ Thương mại, một năm sau khi làm thủ tục đăng ký, luật sư Nguyễn Hoàng Hải (bảo vệ cho nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại Mai Văn Dâu) mới được cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Lúc này, vụ án đã ở giai đoạn sắp ra cáo trạng truy tố. Khi tới VKS đề nghị tiếp cận hồ sơ, luật sư Hải đã bị từ chối với lý do “kiểm sát viên đang đọc”...

Tòa cũng gây khó dễ

Tháng 4-2008, cha một người cướp giật tài sản bị Công an quận 7 (TP.HCM) bắt đã nhờ luật sư Đ. (Đoàn Luật sư TP.HCM) bảo vệ cho con. Luật sư Đ. đến Công an quận 7 làm thủ tục tham gia tố tụng. Lúc này hồ sơ đã chuyển sang VKS quận nên luật sư nhờ cán bộ trại giam yêu cầu bị can ký tên vào giấy nhờ luật sư đến hết giai đoạn xử sơ thẩm. Tháng 7, VKS quận đã cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư Đ. Khi ông mang bộ hồ sơ này sang TAND quận thì tòa lắc đầu, bảo chữ ký của bị can không có mộc của công an nên không cho tham gia tố tụng...

PHAN THƯƠNG - TIẾN HIỂU

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm