Tại dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi), Bộ Tài chính đề xuất bổ sung cơ chế khuyến khích tổ chức tín dụng cho nhóm doanh nghiệp này vay trên cơ sở đa dạng hình thức bảo đảm tiền vay.
Theo đó, ngoài tài sản hữu hình như bất động sản, doanh nghiệp có thể dùng tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản số, tài sản ảo... để vay vốn. Cơ quan quản lý cũng khuyến khích các nhà băng cho vay dựa trên xếp hạng tín nhiệm, phương án sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường hoặc dòng tiền của doanh nghiệp.
Theo Bộ Tài chính, chính sách này nhằm khơi thông nguồn lực cho khu vực kinh tế tư nhân, ưu tiên cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup công nghệ... tại Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị. Dự kiến, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) sẽ được trình tại kỳ họp Quốc hội vào tháng 10. Nếu được thông qua, luật sẽ có hiệu lực từ ngày 1-7-2027.
Tín dụng vẫn ưa chuộng bất động sản
Theo quan sát của ông Huỳnh Thế Du, thành viên Viện Sáng kiến Việt Nam, xét trên bình diện tổng thể và quy mô, doanh nghiệp TP.HCM vẫn giữ vị thế dẫn đầu cả nước. Tuy nhiên, đáng chú ý là thành phố không có bất kỳ đại diện nào góp mặt trong top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.
Không dừng lại ở đó, đến cuối năm 2025, giá trị vốn hóa của các doanh nghiệp niêm yết tại TP.HCM chỉ còn chiếm khoảng 1/3 toàn thị trường, giảm mạnh so với mức trên 50% cách đây một thập niên.
Lý giải cho hiện tượng các doanh nghiệp TP.HCM "vô hình" trên các bảng xếp hạng doanh thu truyền thống lớn nhất Việt Nam, ông Lê Phụng Hào, Chủ tịch Global AAA Consulting, nhận định đây không phải là sự suy thoái mà là một sự chuyển dịch bản chất: Từ mô hình thâm dụng tài sản sang mô hình thâm dụng tri thức.
Khi quỹ đất ngày càng giảm, chi phí mặt bằng trở nên đắt đỏ, áp lực nhân công gia tăng, doanh nghiệp TP.HCM chọn một lối đi thông minh hơn là bỏ bớt phần "vỏ" cồng kềnh, giữ lại phần "ruột" tinh hoa về tri thức và công nghệ.
Theo đó, họ tập trung vào kinh tế số, công nghệ hoặc các dịch vụ cao cấp về chuỗi bán lẻ. Tài sản của những doanh nghiệp này không phải là hàng ngàn ha đất mà là các thuật toán, dữ liệu khách hàng, năng lực nghiên cứu phát triển (R&D) và giá trị thương hiệu.
Mô hình “nhẹ tài sản” này giúp tối ưu vòng quay vốn, mở rộng biên lợi nhuận và duy trì tỉ suất sinh lời cao, tạo nên một nền tảng tài chính linh hoạt và bền bỉ trước biến động thị trường.
Tuy nhiên, nghịch lý lại nằm ở chỗ, chính những doanh nghiệp giàu chất xám này lại gặp điểm nghẽn khi có nhu cầu vay vốn. Thống kê từ VCCI cho thấy có tới 93,5% khoản vay tại ngân hàng đòi hỏi tài sản thế chấp là bất động sản, các tài sản vô hình gần như chưa được thừa nhận đúng mức trong tiếp cận vốn.
Hệ quả là một doanh nghiệp có công nghệ vượt trội, nền tảng vận hành hiệu quả hay khả năng tạo dòng tiền tốt vẫn khó tiếp cận tín dụng nếu thiếu tài sản hữu hình để đảm bảo.
Khi chạm ngưỡng quy mô trung bình nhưng thiếu nguồn vốn để bứt phá, không ít doanh nghiệp buộc phải chọn phương án an toàn là “bán mình” cho các quỹ đầu tư ngoại hoặc các tập đoàn lớn, thay vì tiếp tục hành trình trở thành những gã khổng lồ nội địa.
Ông Lê Phụng Hào, Chủ tịch Global AAA Consulting
Nút thắt nào khiến tài sản vô hình “khó vào cửa” ngân hàng?
Trước đề xuất của Bộ Tài chính về việc khuyến khích sử dụng các loại tài sản mới như quyền tài sản, giá trị thương hiệu, tài sản số hay tài sản mã hóa... trong hoạt động tín dụng, giới chuyên gia cho rằng đây là hướng đi phù hợp với xu thế, nhưng việc triển khai sẽ không đơn giản.
Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư - Phó Giám đốc Khối Kinh doanh của Chứng khoán ABS, cho rằng trên thị trường quốc tế, việc sử dụng tài sản mã hóa làm tài sản bảo đảm không phải là không có, song các tổ chức tài chính vẫn giữ thái độ hết sức thận trọng.
Nguyên nhân lớn nhất nằm ở mức độ biến động rất cao của nhóm tài sản này, đặc biệt là tiền số. Khác với cổ phiếu hay trái phiếu có biên độ dao động song vẫn dễ kiểm soát, các tài sản như tiền kỹ thuật số (crypto) có thể mất giá đến hai chữ số chỉ trong một phiên. Điều này khiến bài toán quản trị rủi ro trở nên phức tạp.
Thực tế, các định chế tài chính toàn cầu có xu hướng chấp nhận tài sản mã hóa gắn với tài sản cơ sở hữu hình, chẳng hạn như bất động sản, khoản phải thu hay máy móc thiết bị, hơn là các tài sản thuần túy “ảo”.
Việc token hóa một dự án bất động sản hay một khoản nợ để làm tài sản đảm bảo là mô hình đã và đang được thử nghiệm, thậm chí tiệm cận với các hình thức chứng khoán hóa truyền thống. Ngược lại, sử dụng tiền số làm tài sản thế chấp vẫn là “vùng xám” với mức độ rủi ro cao và chưa được chấp nhận rộng rãi.
Ông Minh cho rằng việc khuyến khích đa dạng hóa tài sản đảm bảo được đánh giá là cần thiết nhưng nên đi theo lộ trình thận trọng.
Trước hết, nên ưu tiên các tài sản “số hóa” có thể được định giá và kiểm soát rõ ràng. Trong khi đó, các tài sản thuần "ảo" khó xác định giá trị nội tại không chỉ đối mặt với nguy cơ biến động giá mạnh mà còn chịu áp lực bị gian lận trên thị trường.
Một điểm nghẽn lớn hơn nằm ở chính cách tiếp cận tín dụng hiện nay. Dù các ngân hàng đã phát triển hệ thống xếp hạng tín nhiệm và có thể cho vay dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh, nhưng yếu tố quyết định cuối cùng vẫn là tính thanh khoản của tài sản đảm bảo. Nói cách khác, ngân hàng không chỉ quan tâm tài sản đáng giá bao nhiêu, mà quan trọng hơn là có bán được hay không và bán trong bao lâu.
“Vì vậy, để mở rộng không gian tín dụng, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở việc chấp nhận thêm loại tài sản nào, mà là tạo thanh khoản cho các loại tài sản đó. Từ hàng tồn kho, máy móc thiết bị đến quyền tài sản hay tài sản số, nếu có thể được giao dịch trên các thị trường thứ cấp minh bạch như sàn hàng hóa, thị trường phái sinh hay nền tảng số hóa thì đều có thể trở thành tài sản đảm bảo hiệu quả.
Tuy nhiên, đây là quá trình dài hơi, đòi hỏi sự phối hợp ở cấp Chính phủ, từ hoàn thiện khung pháp lý, triển khai cơ chế thử nghiệm (sandbox) đến vận hành chính thức thị trường. Khi đó, hệ thống ngân hàng mới có đủ cơ sở để mở khóa tín dụng cho các mô hình tài sản mới thay vì tiếp tục phụ thuộc gần như tuyệt đối vào bất động sản như hiện nay” - ông Minh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, TS Huỳnh Trung Minh, chuyên gia tài chính - ngân hàng, cũng cho rằng đề xuất của Bộ Tài chính là một bước đi tiến bộ, tiệm cận xu hướng toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh cần mở rộng kênh tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp.
Song, vị chuyên gia này cũng thừa nhận việc đưa các tài sản vô hình như giá trị thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ hay tài sản số vào làm tài sản bảo đảm về nguyên tắc là hợp lý, nhưng triển khai thì rất khó.
"Bởi lẽ, một tài sản muốn được nhà băng chấp nhận làm tài sản đảm bảo phải đáp ứng ba điều kiện cốt lõi: Phải định giá được, có tính thanh khoản cao và có hành lang pháp lý rõ ràng để xử lý nếu xảy ra tranh chấp. Trong khi đó, tài sản vô hình hiện nay đều vướng cả ba điểm nghẽn này" - TS Huỳnh Trung Minh nói.
Thứ nhất, đối với bài toán định giá, giá trị của phần mềm, bằng sáng chế hay thương hiệu phụ thuộc rất mạnh vào kỳ vọng và uy tín doanh nghiệp. Một doanh nghiệp hôm nay còn tăng trưởng tốt, thương hiệu có thể được định giá rất cao, nhưng chỉ cần một cú sốc thông tin, giá trị có thể sụt giảm ngay lập tức.
Thứ hai là rủi ro pháp lý. Các tài sản như sở hữu trí tuệ hay tài sản số có đặc tính dễ sao chép, khó kiểm soát và tiềm ẩn nguy cơ bị xâm phạm. Hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm hiện nay cũng chưa theo kịp sự phát triển của các loại tài sản mới, còn thiếu sự đồng bộ với pháp luật về sở hữu trí tuệ và công nghệ thông tin, khiến việc xử lý khi phát sinh tranh chấp trở nên phức tạp.
Thứ ba là vấn đề thanh khoản, khi rủi ro xảy ra, việc phát mãi tài sản thế chấp là bất động sản vẫn khả thi hơn rất nhiều so với việc “bán” một thương hiệu, bằng sáng chế hay tài sản số...
Chính vì vậy, dù không phủ nhận xu hướng mới, các ngân hàng thương mại hiện vẫn tỏ ra thận trọng. Chưa kể, theo quy định hiện hành, các ngân hàng phải áp dụng tỉ lệ trích lập dự phòng cao đối với tài sản vô hình, tài sản có mức độ rủi ro cao, do đó việc mở rộng cho vay dựa trên nhóm tài sản này càng trở nên kém hấp dẫn.
Để đề xuất đi vào thực tế, cần một hệ sinh thái đồng bộ thay vì chỉ dừng ở khuyến khích chính sách. Trong đó, bốn trụ cột quan trọng gồm: Hoàn thiện khung pháp lý liên thông giữa các bộ, ngành; phát triển cơ chế bảo lãnh tín dụng (nhà nước chia sẻ rủi ro với ngân hàng); chuyển dịch tư duy cho vay từ tài sản bảo đảm sang dòng tiền và xếp hạng tín dụng; đồng thời hình thành thị trường thứ cấp để mua bán, chuyển nhượng các tài sản vô hình.
Nói cách khác, đề xuất trên rất mới và giàu tiềm năng nhưng để "mặc vừa" chính sách này, nền kinh tế và hệ thống pháp lý phải thay đổi đồng bộ. Khi tài sản vô hình có thể định giá, giao dịch và thanh lý một cách minh bạch, khi đó chúng mới thực sự trở thành tài sản bảo đảm đúng nghĩa, và chính sách mới có thể phát huy hiệu quả.
TS Huỳnh Trung Minh, chuyên gia tài chính - ngân hàng