LTS: Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đang bước vào giai đoạn phát triển sâu sắc hơn và chuyến thăm vừa qua của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trở thành dấu mốc quan trọng. Không chỉ củng cố lòng tin chính trị, chuyến thăm còn mở ra những định hướng hợp tác cụ thể trên nhiều lĩnh vực như hạ tầng, thương mại, công nghệ và phát triển bền vững. Từ nền tảng đó, hai nước đang hướng tới việc đưa quan hệ song phương đi vào chiều sâu, thực chất và tạo động lực tăng trưởng lâu dài.
Nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã có chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14 đến 17-4.
Đây là hoạt động đối ngoại cấp cao quan trọng tiếp nối các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước trong thời gian qua, diễn ra đúng một năm sau chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ngày càng tốt đẹp, có những bước chuyển mới, rõ nét và toàn diện, có nhiều điểm sáng về hợp tác.
Báo Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Tăng Nghị, Trưởng khoa Lịch sử và quan hệ quốc tế Trường ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia TP.HCM) nhân sự kiện quan trọng này.
Chuyến thăm nâng tầm lòng tin chiến lược
. Phóng viên: Chuyến thăm Trung Quốc lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được hai bên nhấn mạnh bằng những cụm từ rất đáng chú ý như “lựa chọn chiến lược”, “ưu tiên hàng đầu”. Theo ông, những tuyên bố này phản ánh thực chất quan hệ Việt - Trung hiện nay ra sao? Phải chăng quan hệ hai nước đang bước vào một giai đoạn điều chỉnh chiến lược sâu hơn?
+ TS Nguyễn Tăng Nghị: Có thể thấy những cụm từ như “lựa chọn chiến lược” hay “ưu tiên hàng đầu” được nhắc đến thường xuyên trong các tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt kể từ khi hai nước nâng cấp lên khuôn khổ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện năm 2008.
Tập Cận Bình và phu nhân chụp ảnh chung. Ảnh: TTXVN
Nếu nhìn dưới góc độ học thuật, có thể vận dụng khung phân tích của Alexander Wendt trong chủ nghĩa kiến tạo xã hội để lý giải sự vận động của quan hệ hai nước. Sau đại dịch COVID-19, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc có xu hướng dịch chuyển sang trạng thái gắn kết hơn về nhận thức và định hướng phát triển.
Đặc biệt, sau chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam vào năm 2023, hai bên đã thống nhất đưa khái niệm “cộng đồng chia sẻ tương lai” vào nhiều văn kiện quan trọng. Có thể nói quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện đang bước vào một giai đoạn phát triển sâu sắc hơn, là một trong những giai đoạn phát triển tích cực nhất từ trước đến nay.
Ở góc độ chính sách, đây không chỉ là điều chỉnh về mặt chiến thuật mà còn mang ý nghĩa điều chỉnh chiến lược ở một số nội hàm quan trọng, thể hiện qua việc tăng cường phối hợp, củng cố nền tảng hợp tác và định hình các khuôn khổ hợp tác ổn định, lâu dài.
Thứ nhất, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, việc lãnh đạo Việt Nam lựa chọn Trung Quốc là một trong những điểm đến đối ngoại quan trọng sớm trong nhiệm kỳ cho thấy Việt Nam coi trọng quan hệ với Trung Quốc, đồng thời chủ động định vị đây là một trong những trụ cột quan trọng trong tổng thể chính sách đối ngoại.
Thứ hai, việc khái niệm “cộng đồng chia sẻ tương lai” ngày càng được sử dụng rộng rãi cũng cho thấy hai bên đang tăng cường tìm kiếm các điểm tương đồng trong hợp tác và phát triển, trên cơ sở tôn trọng lợi ích của nhau, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm phù hợp.
Từ đó có thể thấy đây là một bước điều chỉnh mang tính chiến lược theo hướng kế thừa và phát triển, phản ánh nỗ lực chung của cả hai bên trong việc thúc đẩy quan hệ tiếp tục ổn định, bền vững và lâu dài.
Tập Cận Bình. Ảnh: TTXVN
. Việc Việt Nam và Trung Quốc đồng thời nhấn mạnh “tăng cường tin cậy chiến lược” mang hàm ý gì? Theo ông, yếu tố “tin cậy” này hiện đang được thể hiện cụ thể ra sao trong thực tiễn hợp tác giữa hai nước?
+ Khái niệm “tin cậy chiến lược” đã được lãnh đạo hai nước nhấn mạnh trong hơn 20 năm qua, đặc biệt từ khi nâng cấp quan hệ Đối tác chiến lược. Đây là một trong những yếu tố cốt lõi trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục nhấn mạnh sự tin cậy chiến lược phản ánh những mối quan tâm chung giữa Việt Nam và Trung Quốc trước các biến động của môi trường địa chính trị khu vực và thế giới. Điều này góp phần làm gia tăng những điểm tương đồng về lợi ích giữa hai nước, từ đó thúc đẩy xu hướng tăng cường phối hợp, nhằm giảm thiểu rủi ro từ các biến động phức tạp của môi trường bên ngoài. Các hoạt động tiếp xúc cấp cao, trao đổi đoàn và thăm viếng chính thức trong giai đoạn này là những chỉ dấu cho thấy tin cậy chiến lược song phương Việt - Trung tiếp tục được củng cố.
Trong thực tiễn, yếu tố tin cậy chiến lược được thể hiện trên nhiều cấp độ.
Ở cấp cao nhất, hai bên tăng cường tiếp xúc giữa hai Đảng và lãnh đạo cấp cao, qua đó góp phần củng cố vai trò lãnh đạo và định hướng quan hệ song phương.
Ở cấp trung, tin cậy được cụ thể hóa thông qua hợp tác kinh tế và kết nối hạ tầng, đặc biệt trong các lĩnh vực thương mại, giao thông và các dự án liên kết như đường sắt, đường bộ cao tốc. Đây là kênh quan trọng để từng bước hiện thực hóa các nội dung hợp tác.
Bên cạnh đó, vấn đề Biển Đông vẫn là lĩnh vực cần tiếp tục xử lý. Hai bên hiện nhấn mạnh việc tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển, Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông và thúc đẩy xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Đây vẫn là lĩnh vực đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nhằm củng cố lòng tin và duy trì ổn định lâu dài.
Nhìn chung tin cậy chiến lược không chỉ dừng lại ở các tuyên bố, mà đang từng bước được thể hiện thông qua các cơ chế hợp tác cụ thể trên nhiều cấp độ, dù vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục được thúc đẩy và hoàn thiện.
Điểm sáng hợp tác song phương
. Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc vừa qua nhấn mạnh các trụ cột như tin cậy chính trị, kết nối hạ tầng, thương mại và giao lưu nhân dân. Trong số các lĩnh vực này, đâu là những mô hình hợp tác đã vận hành hiệu quả nhất thời gian qua và đâu là những điểm sáng có thể xem là hình mẫu cho hợp tác song phương, thưa ông?
+ Hai bên đã xác định bốn trụ cột chính gồm tin cậy chính trị, kết nối hạ tầng, thương mại và giao lưu nhân dân. Trong đó, tin cậy chính trị tiếp tục giữ vai trò nền tảng, phản ánh định hướng và quyết tâm chung của hai Đảng. Thời gian qua, hai bên đã duy trì trao đổi lý luận, hợp tác đào tạo cán bộ, tổ chức hội thảo và chia sẻ kinh nghiệm nhằm củng cố vai trò lãnh đạo ở mỗi nước. Trụ cột này sẽ tiếp tục được duy trì và tăng cường.
Tuy nhiên, lĩnh vực có khả năng tạo chuyển biến rõ nét trong thời gian tới là kết nối hạ tầng. Nhu cầu phát triển đặt ra yêu cầu Việt Nam đẩy mạnh hạ tầng, cả trong nước và kết nối khu vực, trong đó có Trung Quốc. Các hành lang kinh tế như Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng, Nam Ninh - Hà Nội - Hải Phòng, cùng các tuyến đường sắt kết nối Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai theo tiêu chuẩn quốc tế, cho thấy quyết tâm của hai bên trong việc thúc đẩy liên kết. Hạ tầng kết nối sẽ giúp tăng tốc lưu thông hàng hóa, mở rộng thương mại từ khu vực biên giới vào sâu nội địa, với các đầu mối quan trọng như cảng Hải Phòng, cửa khẩu Lào Cai và Hữu Nghị. Đây là điểm sáng nổi bật và có thể trở thành mô hình hợp tác tiêu biểu trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, trụ cột thương mại cũng giữ vai trò then chốt. Hợp tác thương mại đang chuyển từ hình thức truyền thống sang thực chất hơn, đặt ra yêu cầu xử lý vấn đề thâm hụt thương mại và nâng cao chất lượng hàng hóa. Trung Quốc cần mở rộng nhập khẩu từ Việt Nam, trong khi Việt Nam phải cải thiện tiêu chuẩn sản phẩm để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường này.
Việt Nam - Trung Quốc ký kết nhiều văn kiện hợp tác
Theo TTXVN, sau hội đàm chính thức, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 15-4 chứng kiến lễ ký một số văn kiện hợp tác tiêu biểu giữa hai nước, bao gồm:
Bản ghi nhớ về hợp tác trong khuôn khổ Sáng kiến an ninh toàn cầu giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHND Trung Hoa.
Bản ghi nhớ hợp tác giữa TP Hà Nội và TP Bắc Kinh giai đoạn 2026-2030.
Nghị định thư về thiết lập, quản lý và vận hành đường dây nóng cấp bộ trưởng giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Công an Trung Quốc.
Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2026-2030.
Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao Việt Nam và Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Bản ghi nhớ giữa Bộ Xây dựng Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách quốc gia Trung Quốc về triển khai hợp tác đào tạo đường sắt để tăng cường năng lực cho nhân lực đường sắt Việt Nam.
Bản ghi nhớ về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Bộ GD&ĐT Việt Nam và Bộ Giáo dục Trung Quốc...
Một hướng đi nổi bật là phát triển xuất khẩu nông sản chất lượng cao như sầu riêng, chuối, xoài và các sản phẩm nông thủy sản khác. Nếu nâng cao được chất lượng và xây dựng thương mại thực chất, hàng Việt Nam có thể thâm nhập sâu vào thị trường nội địa Trung Quốc, thay vì chỉ tập trung ở khu vực biên giới. Khi đó, giá trị xuất khẩu sẽ tăng lên đáng kể.
. Từ những nội dung đã được thống nhất trong chuyến thăm, ông đánh giá đâu là những dư địa hợp tác còn chưa được khai thác hết giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt trong các lĩnh vực như hạ tầng, kinh tế số, năng lượng hay chuỗi cung ứng?
+ Các lĩnh vực như hạ tầng, kinh tế số, năng lượng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp phụ trợ và chuỗi sản xuất liên kết đều đã được nhấn mạnh trong các phát biểu cấp cao. Trong đó, dư địa lớn nhất nằm ở công nghiệp phụ trợ và chuỗi sản xuất liên kết.
Trung Quốc hiện có hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ gần như hoàn chỉnh, trong khi Việt Nam đang phát triển nhưng còn nhiều hạn chế. Hai nền kinh tế có tính bổ trợ cao, với Trung Quốc sở hữu kinh nghiệm, công nghệ và năng lực sản xuất vượt trội, trong khi Việt Nam có nhu cầu phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong bối cảnh hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao.
Việc thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc vào Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất và công nghiệp phụ trợ, sẽ tạo điều kiện hình thành các chuỗi liên kết sâu hơn. Các dự án hạ tầng như tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng cũng phục vụ trực tiếp cho mục tiêu này, giúp tăng cường kết nối và hỗ trợ phát triển chuỗi sản xuất.
Bên cạnh đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI) là một dư địa quan trọng khác. Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển lĩnh vực này thông qua các định hướng chính sách, trong khi Trung Quốc có lợi thế lớn về nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như số lượng bằng sáng chế. Việc tăng cường hợp tác, đặc biệt giữa các trường đại học và viện nghiên cứu của hai nước, sẽ giúp Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với công nghệ mới, qua đó rút ngắn quá trình hiện đại hóa.
Tóm lại, hai dư địa nổi bật có thể khai thác mạnh trong thời gian tới là phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với chuỗi sản xuất và hợp tác về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, đặc biệt trong lĩnh vực AI. Đây là những lĩnh vực có tính bổ trợ cao và có thể tạo ra bước chuyển đáng kể trong quan hệ hợp tác giữa hai nước.
Việt Nam và Trung Quốc sẽ đăng cai nhiều sự kiện quan trọng
Năm nay đánh dấu kỷ niệm năm năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN. Trong hai năm tới, Trung Quốc và Việt Nam sẽ lần lượt đăng cai Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Việt Nam cũng sẽ đảm nhiệm vai trò đồng chủ tịch Hợp tác Mekong - Lan Thương.
Trong bối cảnh hiện nay, Trung Quốc và Việt Nam cùng nhau tiếp tục giữ vững ngọn cờ hòa bình, phát triển, hợp tác và cùng có lợi, tích cực phối hợp lập trường trong các cơ chế đa phương như Liên hợp quốc, APEC, hợp tác Trung Quốc - ASEAN và Hợp tác Mekong - Lan Thương…
Trung Quốc luôn coi Việt Nam là một ưu tiên trong chính sách ngoại giao láng giềng của mình.
Trung Quốc và Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì tình hữu nghị truyền thống, thúc đẩy hợp tác song phương thiết thực, đạt được những đột phá mới trong các lĩnh vực mới nổi, đẩy nhanh việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Trung - Việt ở mức độ liên kết chiến lược cao hơn, trở thành một lực lượng quan trọng cho hòa bình, ổn định và phát triển khu vực.
Học giả DƯƠNG DƯƠNG, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Việt Nam
thuộc Học viện ASEAN/(Theo TTXVN)
Gợi ý hai mô hình cho hợp tác Việt - Trung
Từ những dư địa trong hợp tác Việt Nam - Trung Quốc, có hai mô hình có thể ưu tiên triển khai sau chuyến thăm.
Thứ nhất là phát triển hành lang kinh tế số gắn với logistics. Trung Quốc đang đi trước Việt Nam nhiều năm trong lĩnh vực kinh tế số, với các nền tảng thanh toán và giao dịch như Alipay, WeChat Pay, trong khi Việt Nam cũng đang thúc đẩy các nền tảng như Momo, VNPAY để tăng tốc thanh khoản và thương mại. Nếu hai bên có thể xây dựng được một hành lang kinh tế số Việt - Trung kết hợp chặt chẽ với hệ thống logistics, đây sẽ trở thành điểm sáng trong hợp tác, đặc biệt góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế tại khu vực biên giới và nâng cao hiệu quả kết nối thương mại song phương.
Thứ hai là phát triển mô hình hợp tác kinh tế xuyên biên giới hoặc các đặc khu kinh tế theo hướng song phương. Hiện nay, hoạt động kinh tế Việt - Trung chủ yếu tập trung sôi động ở khu vực biên giới nhưng chưa lan tỏa mạnh vào nội địa. Việc triển khai các tuyến hạ tầng như đường sắt, cao tốc kết nối Lạng Sơn - Hà Nội - Lào Cai - Hải Phòng cho thấy xu hướng mở rộng không gian liên kết ngày càng rõ nét. Trên nền tảng đó, hai bên có thể nghiên cứu xây dựng các khu hợp tác kinh tế hoặc đặc khu kinh tế chung, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thương mại, đầu tư và di chuyển lao động trong khuôn khổ phù hợp với quy định của mỗi nước.
Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm trong phát triển các đặc khu kinh tế, trong khi Việt Nam đang từng bước tiếp cận và thử nghiệm mô hình này. Nếu tận dụng hiệu quả kinh nghiệm đó, Việt Nam có thể đẩy nhanh thu hút đầu tư, đặc biệt từ các doanh nghiệp sản xuất, đồng thời nâng cao năng lực nội tại, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực.
Tóm lại, hai hướng đi đáng chú ý là xây dựng hành lang kinh tế số gắn với logistics và phát triển các mô hình hợp tác kinh tế xuyên biên giới theo dạng đặc khu. Đây là những dư địa hợp tác giàu tiềm năng, có thể tạo đột phá trong nâng cao năng lực sản xuất và giúp Việt Nam tiến gần hơn tới trình độ phát triển của khu vực và thế giới.
TS NGUYỄN TĂNG NGHỊ, Trưởng khoa Lịch sử và Quan hệ quốc tếTrường ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia TP.HCM)