Hôm qua (8-5), Quốc hội nghe cùng lúc hai tờ trình và báo cáo thẩm tra dự luật sửa đổi, bổ sung Luật Phòng chống ma túy và tổng kết Nghị quyết 16 của Quốc hội khóa trước về thí điểm tổ chức, quản lý, dạy nghề cho người sau cai nghiện. Hai nội dung lớn này liên quan, gắn kết chặt chẽ với cùng mục đích tăng hiệu quả hoạt động phòng chống ma túy.
Kết quả chưa thuyết phục
Sau khi có Nghị quyết 16 (tháng 6-2003), Thủ tướng đã phê duyệt cho Hà Nội, TP.HCM và các tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Quảng Ninh, Long An, Bình Dương thí điểm triển khai chương trình quản lý tập trung sau cai. Mục tiêu là tạo điều kiện để một bộ phận người sau cai nghiện tự nguyện hoặc có nguy cơ tái nghiện cao có thời gian cách ly môi trường xã hội phức tạp; bổ sung kiến thức, tay nghề, rèn luyện nhân cách để tái hòa nhập cộng đồng... Sau năm năm triển khai đã có hơn 32.000 người nghiện ma túy được đưa vào chương trình quản lý sau cai.
Trong bảy địa phương tham gia, TP.HCM có công khởi xướng và đã triển khai quy mô lớn, trở thành nơi duy nhất có người vượt qua giai đoạn sau cai trở về hòa nhập cộng đồng. Báo cáo của TP.HCM cho thấy đa số người tham gia chương trình được xóa mù chữ, thậm chí còn có 111 người theo các lớp đại học từ xa. Hiện tượng tái nghiện cũng được cải thiện đáng kể. Trong hơn 13.700 người về với cộng đồng đến cuối tháng 3-2008, ở TP.HCM mới phát hiện chừng 6% tái sử dụng ma túy (so với 90% bị tái nghiện trước đây). Xã hội cũng được hưởng lợi từ đề án sau cai: tội phạm liên quan đến ma túy ở TP giai đoạn 2001-2006 giảm từ 45% xuống 20%...
Tuy nhiên, Chính phủ nhận định kết quả trên mới là bước đầu, chưa đủ thời gian thử thách, chưa có cơ sở vững chắc trong khi Nghị quyết 16 chỉ mang tính thí điểm và sẽ hết hiệu lực từ ngày 1-8 tới. Chưa kể còn khoảng 6.000 người cho đến lúc đó vẫn chưa hoàn tất giai đoạn quản lý tập trung sau cai.
Lúng túng nhiều phương án
Chính phủ đề nghị cần luật hóa vấn đề quản lý sau cai vào Luật Phòng chống ma túy. Ủy ban Về các vấn đề xã hội trong thẩm tra dự luật cũng tán thành quan điểm này. Thế nhưng ngay Chính phủ cũng thấy lúng túng, chưa biết luật hóa cách nào. Bởi quản lý sau cai như TP.HCM triển khai, nhiều người nhận xét là chống tái nghiện kiểu “nhà giàu”, tốn kém hàng ngàn tỷ đồng, không phải địa phương nào cũng có khả năng đáp ứng.
Trong Chính phủ có tới ba phương án. Loại thứ nhất, sau giai đoạn cai nghiện bắt buộc 1-2 năm, người nghiện về cộng đồng chịu sự quản lý, hỗ trợ của chính quyền cơ sở để phòng ngừa tái nghiện khoảng 1-2 năm. Cách làm này được nhiều người đồng tình vì không phải đầu tư tốn kém, song e ngại hiệu quả thấp. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề nghị phương án hai gần giống với Nghị quyết 16. Theo đó, những địa phương có điều kiện sẽ áp dụng quản lý sau cai tập trung 1-3 năm riêng với đối tượng nguy cơ tái nghiện cao. Tuy nhiên, có ý kiến băn khoăn là pháp luật phải áp dụng thống nhất, không thể mỗi nơi mỗi kiểu. Phương án thứ ba là của TP.HCM, giống như ý kiến của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, song thời gian quản lý sau cai tối đa tới năm năm và chỉ áp dụng với người tự nguyện. Nhưng lại phát sinh câu hỏi: Đã tự nguyện thì cần gì đưa vào luật?
Thẩm tra nội dung này, các thành viên Ủy ban Về các vấn đề xã hội cũng rất băn khoăn và có nhiều ý kiến khác nhau không kém. Tuy nhiên theo Chủ nhiệm Trương Thị Mai, sau khi thảo luận kỹ, ủy ban đề nghị giải pháp uyển chuyển là thực hiện quản lý sau cai cả hai hình thức: quản lý tại cộng đồng với đa số người đã qua giai đoạn cai nghiện bắt buộc, quản lý tập trung một thời gian với những người có nguy cơ tái nghiện cao.
|
Bắt buộc là vi phạm quyền công dân . Thưa ông, có bao nhiêu lý do khiến nhiều ý kiến đề nghị dừng thực hiện Nghị quyết 16? + Thứ nhất, kết quả đạt được chưa thể khẳng định nó mang tính vững chắc. Báo cáo của Chính phủ nói rằng tỷ lệ tái nghiện khi hòa nhập cộng đồng là 6% chưa nói lên điều gì vì thời gian họ tái hòa nhập còn rất ngắn. Lấy đó để so sánh với tỷ lệ tái nghiện trước đây là hơn 90% là rất khập khiễng. Thứ hai, kinh phí cho đề án này rất tốn kém, TP.HCM trong những năm qua đã bỏ tới 1.200 tỷ đồng để thực hiện đề án này, đó là con số rất lớn. Trong khi đó, chúng ta còn rất nhiều đối tượng khác đáng quan tâm hơn. Lý do thứ ba rất quan trọng là khi quyết định cho thí điểm đề án thì quy định đối tượng chủ yếu để quản lý tập trung là những người tự nguyện. Nhưng khi tổng kết, có thể nói rằng gần như toàn bộ đều bị tập trung bắt buộc, có người tuy là viết đơn tự nguyện nhưng thực tế là viết đơn bắt buộc. Điều này đã làm tính chất nhân văn cũng như tính chất pháp lý của đề án giảm đi. . Phải chăng đó là nguyên nhân để một số ý kiến cho rằng thực hiện đề án là vi phạm quyền công dân? + Luật chỉ quy định thời gian tối đa cho cai nghiện là 1-2 năm chứ không quy định thời gian tập trung sau cai nghiện, nếu thực hiện bắt buộc tập trung sau cai thì vi phạm đến quyền công dân. Mặc dù ai cũng hiểu đây là vấn đề nhân văn nhưng hai chữ bắt buộc nó làm giảm tính nhân văn đi. Thành ra vấn đề nhạy cảm như vậy mà xử lý không khéo thì chính nhà nước lại không tôn trọng pháp luật. Vì vậy, các cơ quan có liên quan đều đề xuất không nên tiếp tục thực hiện đề án này, thay vào đó là rút kinh nghiệm để đưa những nội dung cụ thể vào luật nhằm đảm bảo tính pháp lý. . Nhưng cũng không ít người cho rằng nên tiếp tục thực hiện đề án để làm “sạch” xã hội, ông nghĩ sao? + Đúng là nếu kéo dài thời gian quản lý sau cai nghiện thì cũng tốt hơn cho an ninh xã hội. Tuy nhiên, càng ngày mình càng hướng sang quan niệm coi người nghiện không phải là người phạm tội mà là người bệnh. Bị bệnh thì phải được chữa bệnh một cách tự nguyện chứ không thể dùng các biện pháp hành chính làm ảnh hưởng đến quyền tự do của họ được. . TP.HCM vẫn mong muốn kéo dài đề án này. Theo ông thì có cách nào để những nơi có điều kiện vẫn tiếp tục thực hiện không? + Tôi nghĩ nên tạo điều kiện cho những nơi có đủ lực để làm chuyện này chứ không nên kéo dài thí điểm. Điều quan trọng là đưa ngay vào Luật Phòng, chống ma túy những nội dung cần thiết. Ví dụ như không nói kéo dài thời gian quản lý sau cai mà nên kéo dài thời gian cai nghiện đối với những người có nguy cơ tái nghiện cao. Thậm chí đối với những người tự nguyện nhận sự quản lý sau cai thì cũng có thể lập các trung tâm mang tính xã hội hóa để người có tiền thì họ tự bỏ ra, còn người không có tiền thì nhà nước hỗ trợ một phần. . Xin cảm ơn ông! LÊ KIÊN thực hiện |
NGHĨA NHÂN
GS.TS Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban