Lãi suất tiết kiệm mới nhất: Cam kết giảm nhưng cuộc đua huy động chưa hạ nhiệt

(PLO)- Sau cam kết giảm lãi suất của hàng loạt ngân hàng, thị trường chưa kịp hạ nhiệt ngay mà còn phân hóa sâu do áp lực vĩ mô khiến dư địa giảm thêm không dễ dàng.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Tại cuộc họp triển khai công tác ngân hàng vào chiều qua, các ngân hàng thương mại đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các ngân hàng thương mại cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.

Lãi suất tiết kiệm phân hóa rõ nét

Sáng ngày 10-4, khảo sát mặt bằng lãi suất ngay sau khi 46 ngân hàng đồng thuận giảm lãi suất trên toàn hệ thống cho thấy biểu lãi suất mới chưa được cập nhật. Tuy nhiên, mức lãi suất có sự phân hóa rõ rệt giữa nhóm Big 4 và các ngân hàng thương mại tư nhân.

Trong khi một số ngân hàng đã nhiều lần điều chỉnh biểu lãi suất tiết kiệm ngay từ đầu năm mới thì sang đầu tháng 4, Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank mới nhập cuộc đua cạnh tranh lãi suất trong bối cảnh chênh lệch tín dụng ngày càng cao hơn so với huy động.

87d75bd6be883fd66699.jpg
Vietcombank tham gia cuộc đua canh tranh lãi suất từ đầu tháng 4. Ảnh: NGUYỆT NHI

Theo đó, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng hiện được niêm yết ở mức 5,9%/năm, tăng 0,7 điểm % so với mức 5,2%/năm trước đó. Tương tự, các kỳ hạn từ trên 12 tháng đến dưới 24 tháng được áp dụng mức lãi suất 5,9%/năm, tăng tương ứng 0,7 điểm %.

Với các kỳ hạn dài hơn như 24 tháng, mức lãi suất hiện đạt 6,5%/năm, tăng mạnh 1,2 điểm phần trăm so với đầu tháng 3.

Riêng nhóm kỳ hạn dài từ 36-60 tháng lại có sự phân hóa rõ nét: trong khi Vietcombank giữ nguyên ở mức 5,3%/năm, không có sự thay đổi so với trước thì Vietinbank, BIDV và Agribank đang trả mức lãi 6,5%/năm ở các kỳ hạn dài từ 24 tháng trở lên, cao hơn tới 1,2 điểm % so với mức 5,3%/năm trong tháng 3-2026.

Đối với các kỳ hạn ngắn, dù có tăng song cả 4 ngân hàng lớn tiếp tục duy trì mức lãi suất tiền gửi ở mức thấp. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn từ 1 đến dưới 2 tháng được Vietcombank, Vietinbank và BIDV giữ nguyên ở 2,1%/năm, trong khi Agribank niêm yết ở mức 2,6%/năm, nhích thêm 0,2 điểm phần trăm so với tháng 3.

Kỳ hạn 3 - 5 tháng cùng được Vietcombank, Vietinbank, BIDV áp dụng mức 2,4%/năm nhưng Agribank nâng thêm 0,2 điểm phần trăm so với tháng 3 lên 2,7%/năm.

Đối với các khoản tiền gửi từ 6 - 11 tháng, trong khi Vietcombank, Vietinbank, BIDV cùng niêm yết lãi suất 3,5%/năm, không thay đổi so với tháng trước thì Agribank lại cộng thêm 0,2 điểm phần trăm lên 4%/năm.

Mức lãi suất của nhóm Big 4 sau khi tăng vẫn thấp hơn nhiều so với nhóm ngân hàng thương mại tư nhân. Đơn cử như NCB, Vikki, PVcombank hiện đang neo lãi suất kỳ hạn 1-5 tháng quanh ngưỡng kịch trần 4,7 – 4,75%/năm. Kỳ hạn 6 tháng cũng cao hơn rõ rệt, khi ngân hàng Bắc Á đang trả 7,06%/năm lãi suất cuối kỳ, An Bình (6,1%/năm), Vikki (6,4%/năm), NCB (6,4%/năm).

Kỳ hạn 12 tháng Vikki đang neo ở mức 6,5%/năm, An Bình (6,1%/năm), Nam A Bank (6,3%/năm), Bắc Á (7,1%/năm)...

Trái ngược hoàn toàn với mặt bằng lãi suất niêm yết, trên các hội nhóm mạng xã hội lại lan truyền dày đặc những lời chào mời lãi khủng. Không ít nhân viên ngân hàng quảng cáo mức 7,9 - 9%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, thậm chí 8,2 - 9,1%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, với điều kiện gửi tiền khá dễ thở, chỉ từ 100 - 200 triệu đồng.

Việc hàng chục ngân hàng thương mại đồng thuận giảm lãi suất không chỉ là một tín hiệu chính sách mà còn phản ánh một giai đoạn điều chỉnh mang tính cấu trúc của hệ thống tài chính. Trong bối cảnh những lực cản vĩ mô vẫn hiện hữu, câu chuyện giảm lãi suất vì thế không đơn thuần là có làm được hay không mà là làm bằng cách nào để bền vững trong dài hạn.

Dưới sự điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, mặt bằng lãi suất đang được định hướng giảm theo cách thận trọng, có kiểm soát. Tuy nhiên, phía sau cam kết đồng thuận ấy là một bài toán phức hợp, đòi hỏi sự thích ứng linh hoạt từ từng ngân hàng.

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng trường Đại học Nguyễn Trãi (NTU)

Trên bình diện toàn cầu, chính sách tiền tệ vẫn đang trong trạng thái giữ cao lâu hơn. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ chưa phát đi tín hiệu rõ ràng về việc đảo chiều lãi suất khiến mặt bằng chi phí vốn quốc tế duy trì ở mức cao. Điều này tạo ra một neo tham chiếu quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ giá và dòng vốn.

Trong nước, áp lực lạm phát chưa hoàn toàn lắng dịu do giá năng lượng và chi phí nhập khẩu vẫn tiềm ẩn biến động. Đáng chú ý hơn, tăng trưởng tín dụng đang phục hồi nhanh hơn huy động vốn, trạng thái này cho thấy nhu cầu vốn của nền kinh tế đang tăng lên, đồng thời đặt ra thách thức về cân đối thanh khoản.

"Do đó, đây không phải là điều kiện lý tưởng để giảm lãi suất trên diện rộng. Động thái hiện nay cần được hiểu như một nỗ lực điều phối mang tính chủ động hơn là phản ánh tự nhiên của cung cầu vốn" - ông Huy nói.

ngan-hang-giam-lai-suat-cho-vay-5705-2703.jpg
Mặt bằng lãi suất tiết kiệm ghi nhận sự phân hóa rõ nét giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và khối tư nhân. Ảnh minh họa

Vì sao lãi suất khó tăng thêm?

Tại cuộc họp chiều 9-4, Vụ trưởng Vụ chính sách tiền tệ (NHNN), ông Phạm Chí Quang cho biết tình hình quốc tế đang diễn biến phức tạp, khó lường.

Trong khi đó, nhu cầu vốn trong nước lớn để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã đặt ra nhiều thách thức đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Về huy động vốn và cho vay, có tình trạng một số ngân hàng thương mại cạnh tranh trong huy động vốn, qua đó đẩy mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tăng.

Về phía NHNN, trong thời gian tới tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến lãi suất tiền gửi và cho vay, việc công bố lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của ngân hàng, có giải pháp điều hành chính sách tiền tệ phù hợp, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng thương mại.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của ngân hàng về lãi suất tiền gửi và cho vay, xử lý nghiêm hành vi vi phạm trong hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại.

Từ góc nhìn của người trong cuộc, lãnh đạo một ngân hàng thương mại khẳng định lãi suất huy động trên thị trường tại một số nhà băng đã đẩy lên quanh ngưỡng 9%/năm và đây là vùng đỉnh, khó có thể tăng cao hơn nữa.

Bởi lẽ, trong bối cảnh nguồn vốn huy động từ dân cư và tổ chức trong nước không còn đủ để bù đắp khoảng chênh lệch giữa tín dụng và huy động, các ngân hàng buộc phải mở rộng sang các kênh vốn quốc tế như một giải pháp tất yếu.

a78e8cdb6b85eadbb394.jpg
Nguồn vốn huy động từ dân cư và tổ chức trong nước không còn đủ để bù đắp khoảng chênh lệch giữa tín dụng và huy động. Ảnh: NGUYỆT NHI

Trước đây, kênh này chưa thực sự hấp dẫn do chi phí vốn quốc tế cao hơn mặt bằng trong nước. Tuy nhiên, sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) liên tiếp hạ lãi suất, chi phí vay vốn ngoại đã giảm đáng kể, hiện dao động quanh mức 8,5–8,75%/năm sau khi tính đủ các khoản chi phí.

Thông thường, để hoàn tất một thương vụ vay vốn quốc tế, các ngân hàng cần khoảng 60 ngày, bao gồm cả thời gian xử lý pháp lý, chi phí luật sư và hoàn thiện hồ sơ, tài liệu. Song, điểm đáng chú ý là thanh khoản trên thị trường vốn quốc tế hiện đang ở mức rất dồi dào.

Thực tế cho thấy, với các thương vụ huy động quy mô lớn, chẳng hạn cần vay khoảng 500 triệu USD, nhưng nhu cầu đăng ký cho vay của nhà đầu tư thường vượt xa quy mô chào bán. Điều này phản ánh rõ nét niềm tin và khẩu vị rủi ro tích cực của nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường Việt Nam.

Dòng tiền này chủ yếu đến từ khu vực châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Đông, những thị trường đang gia tăng hiện diện tại Việt Nam. Trong bức tranh đó, Singapore nổi lên như một trung tâm trung chuyển vốn toàn cầu, nơi dòng tiền quốc tế được tập hợp và phân bổ lại sang các thị trường tiềm năng trong khu vực.

"Với khả năng tiếp cận nguồn vốn ngoại ngày càng thuận lợi, các ngân hàng trong nước có thêm dư địa để chủ động cân đối thanh khoản, qua đó giảm bớt áp lực phải cạnh tranh huy động từ dân cư bằng mức lãi suất cao. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng khiến mặt bằng lãi suất khó có khả năng tăng mạnh trong thời gian tới" - vị lãnh đạo ngân hàng nhấn mạnh.

Ông Huy cho biết thêm giảm lãi suất nếu nhìn ở bề mặt thì đây là một động thái hỗ trợ tăng trưởng, nhưng ở chiều sâu, đó là một bài toán cân bằng vĩ mô có tầm chiến lược dài hạn.

Nếu giảm quá nhanh, chênh lệch lãi suất với quốc tế có thể tạo áp lực lên tỉ giá. Nếu giảm quá mạnh, tổng cầu có thể tăng nóng, kéo theo rủi ro lạm phát quay trở lại. Ngược lại, nếu không giảm, chi phí vốn cao sẽ kìm hãm phục hồi kinh tế.

Do đó, xu hướng có thể thấy trong thời gian tới là sự điều chỉnh có chọn lọc, tức là ngân hàng sẽ điều chỉnh lãi suất nhưng không đồng đều, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, các doanh nghiệp có nền tảng tài chính tốt và khả năng phục hồi rõ nét.

Ở tầng sâu hơn, câu chuyện giảm lãi suất không phải là một quyết định mang tính thời điểm mà là kết quả của một chuỗi cải cách liên tục. Khi chi phí vốn được tối ưu, khi hệ thống vận hành tinh gọn hơn, khi rủi ro được kiểm soát tốt hơn, lãi suất tự nhiên sẽ có xu hướng giảm. Ngược lại, nếu những yếu tố nền tảng này chưa được cải thiện, mọi nỗ lực giảm lãi suất sẽ chỉ mang tính ngắn hạn.

Trong một thế giới nhiều biến động, lãi suất không còn là biến số có thể điều chỉnh một cách đơn giản. Nó là kết quả của niềm tin, của kỷ luật tài chính và của năng lực quản trị. Và chính những yếu tố đó, hơn bất kỳ mệnh lệnh hành chính nào, sẽ quyết định liệu mặt bằng lãi suất thấp có thể trở thành trạng thái lâu dài của nền kinh tế hay không.

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng trường Đại học Nguyễn Trãi

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm