Hiểu đúng về thẩm quyền của chủ tịch xã đối với chứng chỉ hành nghề luật sư

(PLO)- Theo ThS Lê Bá Đức, cần phân biệt để không nhầm lẫn giữa việc tước quyền sử dụng có thời hạn chứng chỉ hành nghề luật sư và việc thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2026 xử phạt vi phạm hành chính trong bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (có hiệu lực từ 18-5).

Thẩm quyền của chủ tịch xã đến đâu?

Nghị định quy định xử phạt trong các lĩnh vực gồm: Bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phục hồi và phá sản. Trong đó, lĩnh vực bổ trợ tư pháp bao gồm: luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; chứng thực; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại.

Điều 84 Nghị định 109 quy định Chủ tịch UBND cấp xã được quyền phạt tiền đến 15 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình; đến 25 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.

Đồng thời, có thể áp dụng các biện pháp phạt bổ sung: đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

att.XfhDB14LQN6h9FXQGDAkODzSZaTNdTGXfkXV3xjEt3w.jpeg

Từ đây tồn tại quan điểm tranh luận xoay quanh việc: Chủ tịch UBND cấp xã có được áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng có thời hạn chứng chỉ hành nghề luật sư hay không?

Trao đổi với PLO, ThS Lê Bá Đức, Trường ĐH Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho rằng sự khác biệt trong cách hiểu chủ yếu xuất phát từ việc diễn giải thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp và sự nhầm lẫn giữa các loại chế tài có liên quan đến chứng chỉ hành nghề luật sư.

Theo ThS Đức, trước hết, cần nhìn nhận thẩm quyền xử phạt theo nguyên tắc chung của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Khoản 2 Điều 2 của Luật quy định xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm.

Cách quy định này cho thấy, một chủ thể được coi là có thẩm quyền xử phạt phải đồng thời có khả năng áp dụng các hình thức xử phạt mà pháp luật cho phép. Thẩm quyền ở đây không mang tính hình thức, mà gắn liền với quyền năng cụ thể, bao gồm cả hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.

Trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, Nghị định số 109/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp. Theo khoản 1 Điều 84 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP, Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt như: cảnh cáo; phạt tiền đến 25 triệu đồng; tịch thu tang vật; đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Quy định này có ý nghĩa quan trọng, bởi nó xác lập trực tiếp khả năng áp dụng một chế tài có tác động đến điều kiện hành nghề của cá nhân, trong đó có luật sư.

"Tuy nhiên, thẩm quyền này không phải là quyền năng mang tính tổng quát, có thể áp dụng trong mọi trường hợp. Việc thực hiện phải đặt trong phạm vi các hành vi vi phạm cụ thể được quy định tại các điều luật cụ thể trong Nghị định 109/2026/NĐ-CP. Đơn cử, Điều 8 Nghị định 109/2026 quy định các hành vi vi phạm trong hoạt động hành nghề luật sư được phân chia theo nhiều mức độ khác nhau, tương ứng với các khung tiền phạt từ 1 triệu đến 20 triệu đồng, tương ứng với các khoản từ 1 đến 5 của Điều này. Đây là phạm vi mà Chủ tịch UBND cấp xã có thể áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền", ThS Đức nhận định.

Điểm đáng chú ý là đối với một số hành vi nhất định, nghị định còn quy định kèm theo hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng. Các hành vi này vẫn nằm trong nhóm mà Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tiền.

Vì vậy, xét theo logic pháp lý, khi người có thẩm quyền được giao xử phạt chính đối với một hành vi, đồng thời Nghị định có quy định thêm hình thức xử phạt bổ sung đi kèm, thì người đó cũng có quyền áp dụng hình thức bổ sung tương ứng.

Thu hồi chứng chỉ luật sư khác với tước quyền sử dụng

Tuy vậy, theo ThS Đức cho rằng cần phân biệt để không nhầm lẫn giữa việc tước quyền sử dụng có thời hạn chứng chỉ hành nghề luật sư và việc thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư. Hai chế định này khác nhau cả về bản chất pháp lý lẫn thẩm quyền áp dụng. Tước quyền sử dụng có thời hạn là một hình thức xử phạt bổ sung, nhằm ngăn chặn và răn đe hành vi vi phạm. Sau khi hết thời hạn, nếu không có vi phạm mới, người hành nghề có thể tiếp tục sử dụng chứng chỉ theo quy định.

Ngược lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề là biện pháp quản lý nhà nước làm chấm dứt hiệu lực của chứng chỉ trong những trường hợp luật định, chẳng hạn như không còn đáp ứng điều kiện hành nghề hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nghề nghiệp. Đây không phải là chế tài xử phạt vi phạm hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo quy định tại Nghị định 121/2025/NĐ-CP, thẩm quyền thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư thuộc về Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

"Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng có thời hạn chứng chỉ hành nghề luật sư trong những trường hợp cụ thể được quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP, với tư cách là hình thức xử phạt bổ sung. Tuy nhiên, chủ thể này không có thẩm quyền thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, vì đây là quyết định quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh", ThS Đức khẳng định.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm